Nhờ bí tích Thánh Tẩy, mọi tội lỗi đều được thứ tha: nguyên tội, tội riêng cũng như hình phạt do tội. Những người đã được tái sinh sẽ được vào Nước Thiên Chúa và không còn gì có thể ngăn cản họ. Tuy nhiên, họ còn phải chịu một số hậu quả tạm thời của tội như: đau khổ, bệnh tật, bất toàn, và phải chết.
Hãy nhìn các nhà chiêm tinh xưa. Họ đã không nghe lời ngọt ngào (nhưng đầy xảo trá) của Hê-rô-đê, nhưng là nghe vào “lẽ thật”, lẽ thật ở nơi lời các “ngôn sứ”.
Ngay từ lúc sơ khai của Hội thánh, các Kitô hữu đã được Thánh Tẩy; Tin mừng Nhất Lãm và sách Công Vụ Tông Đồ chứng tỏ rằng phép Rửa là một dấu chỉ cứu độ hữu hình và được cử hành ngay từ thời kỳ đầu trước khi Giáo hội ra khỏi môi trường văn hóa Hylạp.
Các Tông đồ và những người cộng tác đã trao ban bí tích Thánh Tẩy cho những ai tin vào Đức Giêsu Kitô chết và phục sinh. Nhờ Thánh Thần, thụ nhân được dìm xuống nước để thanh luyện, được mặc lấy Đức Kitô, được thánh hóa và nên công chính. Như vậy, bí tích Thánh Tẩy là việc dìm xuống nước để Lời Chúa là hạt giống bất diệt đâm chồi nẩy lộc xanh tươi.
Đối diện với những lời tiên tri đó, gia đình thánh gia chỉ biết thinh lặng. Không phải là “một sự thinh lặng đáng sợ”, nhưng là sự thinh lặng của niềm phó thác.
Hội thánh nhận thấy sự kiện con tàu của ông Nôê tiên báo về ơn cứu độ nhờ bí tích Thánh Tẩy. Đặc biệt cuộc Vượt qua Biển Đỏ, sự kiện dân Israel thực sự được giải thoát khỏi kiếp nô lệ ở Aicập, loan báo ơn giải thoát do bí tích Thánh Tẩy mang lại.
Hãy nhớ rằng, nếu ta xem việc gặp gỡ Đức Giê-su, việc đón nhận Ngài, như là “niềm vui Giáng Sinh của tôi”, thì chúng ta sẽ nhận được một niềm vui lớn, một niềm vui bất tận.
Kinh thánh cho chúng ta sự xác tín rõ ràng rằng nhờ vâng phục và nhờ đức công chính của mình, Đức Giêsu đã đem lại cho nhân loại sự công chính hóa và đức công chính.