Các bí tích là “những kỳ công của Thiên Chúa” trong Giao ước mới và vĩnh cửu, vì là “sức lực phát xuất” từ thân xác Đức Kitô, luôn sống động, ban phát sự sống, và là những tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng không ngừng hoạt động trong Thân Thể Chúa Kitô là Hội thánh.
Thánh Cyprian có nói: “Với những người còn ở trần gian, không có sự sám hối nào là quá trễ. Con đường đến với lòng thương xót Thiên Chúa vẫn rộng mở”.
Từ lễ Hiện xuống, Thánh Thần tiếp tục thực hiện công cuộc thánh hoá ngang qua các dấu chỉ bí tích. Hội thánh thanh tẩy những dấu chỉ lấy từ sinh hoạt thiên nhiên và đời sống xã hội cũng như từ Cựu ước để diễn tả và hiện tại hoá công cuộc cứu độ của Chúa Kitô.
Thánh Thomas Aquinas khẳng định rằng: theo quan điểm của Augustinô thì bí tích là dấu chỉ hữu hình có tương quan với thực tại vô hình, nghĩa là qua dấu chỉ bí tích, người ta đi từ các biểu hiện bên ngoài của sự vật hữu hình đến ý thức về một thực tại vô hình.
Nếu chúng ta xác tín như thế, quả thật, chúng ta đang sống đức tin trong tình trạng “tỉnh thức và sẵn sàng” cho ngày Chúa đến lần thứ hai. Phải “Tỉnh thức và sẵn sàng”…
Có ba yếu tố khiến cho Hội thánh được coi là bí tích cứu độ phổ quát, là khí cụ Chúa Giêsu thiết lập và sử dụng để cứu độ trần thế.
Các bí tích luôn là cử chỉ của Thiên Chúa chứ không phải là của con người. Cử chỉ lớn nhất chính là cuộc nhập thể của Đức Kitô (Xc. Gl 4, 4). Cuộc nhập thể này là một dấu chỉ, một bí tích; cho nên tất cả mọi hành vi trong cuộc đời của Chúa Kitô: từ khi Người sinh ra, lớn lên, công khai rao giảng Tin mừng, chữa lành bệnh tật, làm nhiều phép lạ, thứ tha tội lỗi, thiết lập bí tích Thánh Thể…
Đức Giêsu là trung gian để Thiên Chúa đi vào mối tương quan với loài người; hay nói cách khác, Thiên Chúa đến với con người bằng cách thức cụ thể và hữu hình. Qua cuộc sống và cái chết của mình, Đức Giêsu trao ban chính bản thân Ngài làm bí tích tình yêu cho thế giới