Sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo, cũng như bao cô gái khác không đi học đại học, chị lấy chồng khá sớm. Chị sinh được bốn người con. Gia đình cũng ở mức đủ sống. Nhưng chị đã phải trải qua nhiều thử thách. Nhiều lần bị lên bờ xuống ruộng, nhưng chị vẫn một lòng tín thác vào Chúa. Chị không oán hận chồng mà trái lại chị vẫn xin tôi cầu nguyện cho chồng được ơn hoán cải. Nếu như chị sốt sáng tham dự Thánh lễ bao nhiêu thì chồng chị lại chẳng bao giờ tới nhà thờ. Có lần, chị tâm sự với tôi: “Con chỉ ước chồng con đến với Chúa để cảm nghiệm được tình yêu của Chúa. Nếu chồng con mà trở về với Chúa thì con vui sướng vô cùng”. Nhìn gương mặt và lắng nghe tâm sự của chị, tôi hiểu nỗi băn khoăn trăn trở của người vợ dành cho người chồng. Nỗi băn khoăn trăn trở của chị hẳn cũng là nỗi niềm của nhiều chị em phụ nữ có chồng khô khan nguội lạnh. Những người phụ nữ một mực yêu chồng thương con. Họ không màng chi tới bản thân mà chỉ một lòng một dạ lo cho phần rỗi linh hồn của chồng. Tôi hiểu nỗi niềm của họ. Vợ chồng tay gối má kề, nếu một mai chỉ có một nửa được cứu độ, còn nửa kia không được thì hẳn niềm vui cũng không tròn đầy.
Mở đầu hoạt động công khai của mình, việc đầu tiên Chúa Giêsu làm là nhằm thuyết phục người ta tin tưởng vào quyền năng của Ngài, quyền năng trong lời giảng dạy và trong hoạt động. Thái độ đầu tiên ta phải có đối với Chúa Giêsu cũng là phải tin tưởng vào quyền năng của Ngài. “Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ”.
Chúa nhật 07/01, Đức Hồng Y Marcello Semeraro, Tổng trưởng Bộ Phong thánh đã chủ sự Thánh lễ tại Lisieux, bế mạc Năm Thánh kỷ niệm 150 năm ngày sinh và 100 năm phong chân phước cho Thánh Têrêsa thành Lisieux.
Ngày 7 tháng 1 vừa qua, Giáo hội mừng kính trọng thể Chúa Hiển Linh. Vào lúc 17g30, Ban hợp xướng Suối Việt đã dâng lễ tạ ơn, mừng ngày truyền thống. Thánh lễ đồng tế do cha Bề trên – Chánh xứ Giuse Ngô Mạnh Cường chủ sự, cùng đồng tế có cha đặc trách khối ca đoàn Giuse Nguyễn Duy Linh, cha nguyên Bề trên – chánh xứ Giuse Phạm Hưng Thịnh.
Thiên Chúa vẫn luôn ẩn mình và thắp lên những ngọn đèn như vậy; để ánh sáng của hy vọng, của tình yêu thương luôn soi dẫn và chăm sóc em. Ngọn đèn lớn nhất chính là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa làm người: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9).
Việc Chúa Giêsu nài ép Gioan làm phép rửa cho mình khiến chúng ta phải ngạc nhiên. Ngài là Đấng “vô tội” tại sao lại xin chịu phép rửa sám hối như một tội nhân? Ngài làm như vậy là vì ngay từ đầu đời sống công khai, Ngài đã thực hiện trọn vẹn ý Cha, như người “Tôi Tớ vâng phục” mà các tiên tri đã loan báo. Ngài sẵn sàng vâng phục chấp nhận cái chết trên thập giá. Phép Rửa bằng máu này dẫn tới và thánh hiến phép rửa bằng nước.
Chúa Hiển Linh nghĩa là Thiên Chúa như ánh sáng rực rỡ tựa bình minh tỏ ra cho mọi dân mọi nước như ngôn sứ Isaia đã loan báo bằng hình ảnh: Dân ngồi trong tăm tối sẽ được nhìn thấy ánh sáng chói lòa” (Is 9,2). Qua đó, ngài công bố chiều kích phổ quát của ơn cứu độ.
Kinh Thánh Tân Ước thường dùng hai chữ hiển linh để nói tới việc Thiên Chúa bày tỏ ra cho nhân loại qua Đức Giê-su. Cử hành lễ Hiển Linh, Giáo Hội muốn nói đến việc Thiên Chúa đã tỏ mình ra, qua Hài Nhi Giê-su, cho dân ngoại. Và, đại diện cho dân ngoại là các nhà chiêm tinh, mà chúng ta quen gọi là “Ba Vua”. Câu chuyện nói về các nhà chiêm tinh đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu với tiêu đề : “Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi” (Mt 2, 1-12)







