Bánh trường sinh là Mình Thánh Chúa

 Bánh trường sinh là Mình Thánh Chúa

Bánh trường sinh là Mình Thánh ChúaĂn (hay uống), đó là điều không thể thiếu cho sự sống của con người. Khi nói đến ăn, có người quan niệm: ăn để sống.  Tuy nhiên, có người lại cho rằng: sống để ăn. Làm được nhiều tiền để làm gì? Đi cày cật lực để làm chi?  Để hưởng thụ, để ăn… ăn để sướng, chứ gì nữa!

Chính vì quan niệm “sống để ăn – ăn để sướng”, cho nên những người thuộc trường phái này xem miếng ăn là quan trọng. Vì cho là quan trọng, nên chẳng may “mất ăn một miếng”, ngay lập tức họ sẽ “lộn gan lên đầu”.

Với những người thuộc trường phái “ăn để sống”, họ xem “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Chính vì cái sự tồi tàn đó, nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã phớt lờ cao lương mỹ vị. Đối với ông: “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch”, thế là đủ. Và ông quan niệm rằng: “Người quân tử ăn chẳng cầu no”.

Ăn chẳng cầu no hay ăn để sướng và ngay cả ăn để sống, xét cho cùng cũng chỉ là những quan niệm tương đối dưới cái nhìn của thế gian.

Ăn chẳng cầu no, với ba bữa chỉ là rau ư! Suy dinh dưỡng… bịnh rồi chết. Ăn để sướng ư! Vâng, cứ “tự sướng” đi… tự sướng như nguyên tổ Adam và Eva “thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn”, hái ăn… rồi cũng chết. Ăn để sống ư! Tốt đấy, để sống nhưng sẽ “sống” như thế nào, đây!

Dưới ánh sáng đức tin, đức tin Công Giáo, chúng ta được Đức Giê-su truyền dạy rằng: “Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây. Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó”.

Trong một lần bị Satan cám dỗ về miếng ăn, Ngài đã tuyên bố rằng: “Người ta sống không chỉ bởi cơm bánh, nhưng còn nhờ vào lời miệng Thiên Chúa phán ra”. Rồi, một lần nọ, tại Ca-phác-na-um, khi đối diện với nhóm đông dân chúng tìm đến, họ tìm đến với mong muốn một lần nữa được cho ăn uống no nê, Đức Giê-su đã có một cuộc chuyện trò thẳng thắn với họ, Ngài nói rằng: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”.

**

Cuộc trò chuyện đó đã được ghi chi tiết như sau: Hôm đó, sau biến cố hóa bánh ra nhiều cho năm ngàn người ăn, Đức Giê-su “lánh mặt, đi lên núi một mình, (vì) Ngài biết dân chúng “sắp đến bắt mình đem đi mà tôn lên làm vua”(Ga 6, 15).

Về phần các môn đệ, các ông “xuống bờ Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi về phía Ca-pha-na-um bên kia Biển Hồ”. Hôm ấy, Đức Giê-su không đi cùng với các môn đệ. Cho đến khi thuyền đi được chừng năm sáu cây số, thật ngạc nhiên, các ông thấy “Đức Giê-su đi trên mặt biển và đang tới gần thuyền”.

Vâng, thánh sử Gio-an kể rằng: “Các ông hoảng sợ”. Đúng, các ông sợ, vì hôm đó “Biển động và gió thổi mạnh”, thế mà Thầy lại “đi trên mặt biển”… Ôi! đáng sợ làm sao!

Nhìn thấy sự sợ hãi trên khuôn mặt các môn đệ của mình, Đức Giê-su lên tiếng nói: “Thầy đây mà, đừng sợ”. Nhận ra đúng là Thầy Giê-su, các môn đệ “muốn rước Người lên thuyền”,  thế nhưng, “ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến” (x.Ga 6, 21)

Nơi các ông định đến đó là Ca-pha-na-um. Đến Ca-pha-na-um cứ tưởng là Thầy và trò được nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng không, ở bên bờ bên kia, “khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó”, ngay lập tức “họ xuống thuyền đi Ca-pha-na-um tìm Người”.

Kinh Thánh có chép rằng: “Các ngươi tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm ta hết lòng” (Gr 29, 13) Và quả thật, hôm đó, tấm lòng của họ đã được đáp ứng. Ở bên kia Biển Hồ, họ gặp  Đức Giê-su. Gặp Người, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?”

Vâng, chỉ là một câu hỏi xã giao, bình thường! Ấy thế mà, Đức Giê-su đã trách họ. Trách họ, bởi Đức Giê-su đã nhìn thấu suốt tấm lòng họ, một tấm lòng thực dụng, thực dụng bởi một lần nữa sẽ được ăn no nê.

Thì đây, theo lời tường thuật của thánh sử Gio-an, chúng ta được biết: “…có những thuyền khác từ Ti-be-ri-a đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn”. Tới nơi, không thấy “nhà từ thiện” Giê-su, họ mới dong thuyền  đến Caphanaun, đấy chứ!

Hôm ấy, Đức Giê-su đã trách họ rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”.

Trước đám đông còn đang tẽn tò về hành vi của mình, Đức Giê-su tiếp lời truyền dạy: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (x Ga 6, 27).

Nếu… nếu là chúng ta hôm nay, có lẽ không một ai sẽ phản đối lời nói của Đức Giê-su. Nhưng, với các người Do Thái xưa, thật khó để mà họ “tin”. Làm sao họ có thể tin Ngài chính là “Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”, trong khi rõ ràng họ thấy Đức Giê-su chỉ là “con ông Giu-se”!

Chính vì thế, họ đưa ra một câu hỏi bâng quơ: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Làm gì ư! Vâng, hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm , là tin vào Đấng Người sai đến”.

Đáng tiếc thay! Cuộc gặp gỡ giữa họ với Đức Giêsu, hôm đó, đã không có tiếng nói chung. Họ đòi Ngài “làm dấu lạ” cho họ thấy để họ tin.

Có lẽ, điều họ mong đợi, đó là, phải chi Đức Giê-su là Mô-sê tái thế, để họ lại được ăn một thứ “manna mới”, một loại bánh, như họ nói “Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời”.

Đó là một sự mong đợi thấm đậm tinh thần thế gian. Sứ điệp Đức Giê-su muốn gửi đến họ, cũng như cho chúng ta hôm nay, đó là sự nhận biết về một loại bánh ‘bánh bởi trời, bánh đích thực” – “bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”. Hôm đó, tại Caphacnaum, Đức Giêsu dõng dạc tuyên bố trước cử tọa rằng: “Chính tôi là bánh trường sinh” (Ga 6, 35).

***

Thật ra, Đức Giêsu không phải là không quan tâm đến nhu cầu “thuộc thể” của con người. Không phải một lần, mà là đến những hai lần, Ngài đã hóa bánh ra nhiều cho mọi người ăn. Lần thứ hai đã được ghi trong Tin Mừng Mác-cô (x.Mc 8, 1-10).

Nếu Đức Giê-su đến thế gian chỉ để làm những việc chữa bệnh, hóa bánh ra nhiều v. v… thì hôm nay, có nhớ đến Ngài, cùng lắm, người ta cũng chỉ nhớ đến Ngài như một danh y hoặc một nhà từ thiện nào đó.

Vai trò và sứ vụ của Đức Giêsu đến thế gian, là “để ai tin… thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Vâng, chính Ngài đã tuyên phán rằng: “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”.

Đói và khát ở đây, Đức Giê-su muốn nói đến đói khát “lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”, là thứ lương thực Ngài ban cho. Vâng, thật quá rõ khi chúng ta cùng nghe lại lời Ngài nói với dân Do Thái năm xưa, nói rằng: “Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha  đã ghi dấu xác nhận”.

Nói gì thì nói, là một tín hữu Công Giáo, cuộc sống của chúng ta phải được nuôi dưỡng bởi thứ “lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”.

Thế nên,  đừng quá lệ thuộc và quan trọng hóa những loại lương thực  chỉ có thể nuôi thân xác, có ăn nhiều bao nhiêu, có ăn ngon bao nhiêu, rồi cũng chết.

Là một tín hữu Công Giáo, hãy nghĩ đến lương thực thường tồn, hãy tìm cách sở hữu lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, bởi đó chính là bánh Đức Giê-su ban cho và được Ngài gọi là “Bánh Trường Sinh”.

Chỉ cần… chỉ cần một động tác, động tác bước lên thuyền, con thuyền mang tên “Hội Thánh Công Giáo”. Trên con thuyền này, Đức Giê-su, qua các vị linh mục, Ngài tiếp tục ‘”dâng lời chúc tụng, bẻ ra” và trao cho chúng ta.

Đức Giê-su, qua bàn tay các vị linh mục, Ngài nói: “Mình Thánh Chúa Ki-tô”. Vâng, Bánh trường sinh chính là Mình Thánh Chúa.

Petrus.tran