Home / Thánh Martinô - Suy Tư / Thánh Đaminh và Dòng Thuyết Giáo (1/2)

Thánh Đaminh và Dòng Thuyết Giáo (1/2)

Phần I / 2

Thánh Đaminh và Dòng Thuyết Giáo

Simon Tugwell O.P.

Chân lý sẽ giải thoát anh em (Ga 8,3)

 

1. VỊ TỔ PHỤ ẨN DANH

“Sự thánh thiện của Giáo Hội được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau qua những con người khác nhau” (Vat. II). Quả thực, trong Giáo Hội, có những vị thánh đã trở thành một thứ hình ảnh sống động về sự thánh thiện khiến người ta mến phục ngay khi còn đang sống và được người ta tôn kính ngay khi họ qua đời. Những vị thánh này đã để lại trong tâm trí người ta qua nhiều thế hệ những kỷ niệm sống động về những gì họ đã sống, đã thực hiện. Chẳng hạn, dù đã qua đời từ năm 1226, hình ảnh Thánh Phanxico vẫn còn in đậm nét tuyệt vời và luôn gợi hứng cho Giáo Hội.

Nhưng cũng có những vị thánh khác tuy sống thật âm thầm lặng lẽ, rất ẩn dật, thế mà cuộc đời của các vị này vẫn để lại những thành quả giá trị, với những lý tưởng cao đẹp đã khiến nhiều người dõi bước noi theo. Tuy cá tính của các vị này ít gây ấn tượng nơi ký ức của Giáo Hội; nhưng giống như các bảng chỉ đường, cái gì đó nơi con người của các vị này vẫn mang đầy đủ những ý nghĩa thật lớn lao. Giáo Hội có thể quên cá nhân của các vị này, nhưng không thể quên lý tưởng mà các vị đó đã sống.

Thánh Đaminh là một trong những vị thánh ẩn dật đó. Sau khi Ngài qua đời năm 1221, Dòng Ngài thiết lập – Dòng ANH EM THUYẾT GIÁO mà người ta vẫn quen gọi là Dòng Đaminh, đã đau buồn tiễn đưa Ngài đến nơi an nghỉ cuối cùng; nhưng anh em trong Dòng lại tiếp tục sống một cuộc sống bình thường qua việc tiếp tục những gì mà Ngài ủy thác chứ không nghĩ đến việc tôn phong vị sáng lập của Dòng cho người ta tôn kính. Khác với Dòng anh em hèn mọn – Dòng Phan-xicô, Anh em Dòng Thuyết Giáo lúc ấy chẳng quan tâm đến việc viết tiểu sử đời sống của Ngài để quảng bá sự thánh thiện cá nhân của Ngài. Cuốn sách đầu tiên nói về Thánh Đaminh không thể gọi được là cuốn sách “Cuộc đời Thánh Đaminh“, nhưng là “Tập sách nhỏ về những ngày đầu của Dòng Anh em Thuyết Giáo“.

Khi còn sống ở trần gian, Thánh Đaminh chỉ luôn mong được đối xử như “một người trong anh em”, và khi qua đời, Ngài chỉ mong được chôn cất dưới chân anh em. Theo cá tính riêng, Ngài sống động được mãi trong Giáo Hội, không với tư cách một cá nhân nổi bật, nhưng nơi công việc rao giảng Tin Mừng mà Ngài đã để lại qua Dòng Ngài thiết lập.

Và như thế, chúng ta có thể không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy Ngài không phải là một trong những vị thánh được đông đảo quần chúng biết đến và mộ mến. Người ta không dừng lại nơi con người Thánh Đaminh như nơi con người Thánh Phan-xi-cô. Nhưng người ta không thể không dừng lại nơi lý tưởng của Dòng mà Đaminh đã sáng lập. Khi tranh đấu phục hưng Dòng Đaminh ở Pháp năm 1839, Cha Lacordaire – nhà hùng biện người Pháp nổi tiếng – đã viết: “Nếu Chúa cho tôi quyền sáng lập một Dòng mới, tôi dám đoan chắc rằng, với tất cả suy nghĩ của mình, tôi thấy chẳng có gì phù hợp và hoàn hảo hơn để thích nghi với thời đại và nhu cầu của thời đại chúng ta hơn luật của Thánh Đaminh và cũng chẳng có gì cựu trào cổ kính hơn là lịch sử của nó”.

Sau đó bảy năm sau, băn khoăn về ơn gọi Kitô hữu của mình, Hồng Y Newman đã viết: “Theo cảm nhận riêng của tôi bây giờ, tôi thấy, điều mà thế giới hay ít nhất là nước Anh đang rất cần, đó là các tu sĩ Dòng Đaminh”. Ngài đã phát biểu như thế mặc dù lúc ấy, Ngài hơi lo ngại những tu sĩ Đaminh đánh mất đi truyền thống của họ; vì bản thân Ngài cũng đã khám phá nơi những tu sĩ Đaminh miền Florence rằng: “Các tu sĩ Đaminh này là những nhà sản suất nước hoa v..v…và trong phòng họ có những loại rượu hảo hạng “. Nhưng dù lo ngại “một lý tưởng vĩ đại đang bị tàn lụi”, Ngài vẫn khẳng định: “Đó vẫn là lý tưởng tôi rất mến chuộng”, bởi vì theo Ngài: đã là lý tưởng tuyệt vời thì còn lâu mới tàn lụi được.

Cuộc phục hưng vĩ đại của Dòng Đaminh vào thế kỷ 19 và 20 đã cung cấp cho Giáo Hội những thần học gia và những nhà giảng thuyết lỗi lạc nhất, như Cha M.J. Lagrange (học giả Kinh Thánh tiên phong) và Cha Yves Congar ( một trong những thần học gia nổi tiếng nhất của Vatican II). Năm 1970, nhắc lại lời của Đức Grê-gô-ri-ô IX (Đấng phong thánh cho Đaminh năm 1234), Đức Phaolô VI nhấn mạnh đến tầm quan trọng và rất thích hợp một cách kỳ diệu của Dòng Đaminh trong hoàn cảnh hiện tại của Giáo Hội.

Đàng rằng, chúng ta có thể bằng mọi cách để tìm hiểu cho biết rõ một con người có vẻ như bị che khuất dưới một lý tưởng đầy sáng tạo như thế. Quả thực, các sử gia mới đây đã giúp chúng ta biết rõ con người Ngài . Tuy nhiên, căn cứ theo cá tính riêng của Ngài cũng như sáng kiến Ngài đã để lại cho lịch sử Giáo Hội, phương thức tốt nhất giúp chúng ta biết bản thân Ngài chính là tìm hiểu việc Ngài đã làm thế nào để gầy dựng và tái tạo một cách sống động một lối sống cơ bản của người Kitô hữu trong Giáo Hội và Ngài đã làm thế nào để nhận ra và đáp trả những đòi hỏi thường xuyên của thế giới.


2. Nhà Giảng Thuyết Khiêm Tốn

“Tôi không đọc thấy Đức Kitô là một tu sĩ áo đen hay áo trắng, nhưng chỉ thấy Ngài là một nhà giảng thuyết khiêm tốn”. Đó là phát biểu của một tập sinh Đaminh thế kỷ 13 để trả lời về việc anh chọn lựa gia nhập Dòng Đaminh cho một số đan sĩ muốn anh gia nhập Dòng họ. Chính Đức Kitô đi đây đó “không nơi dựa đầu” để rao giảng nước Thiên Chúa đã trở nên kiểu mẫu căn bản được Thánh Đaminh vạch ra và giới thiệu cho thế kỷ 13. Và chính Đức Kitô cũng đã cử các môn đệ ra đi và thực hành như vậy. Giáo Hội được rộng lan khắp cùng bờ cõi trái đất chính là nhờ những vị giảng thuyết của Giáo Hội đã ra đi rao giảng không biết mệt mỏi. Trải qua các thời đại của lịch sử Kitô giáo, đã có biết bao những tâm hồn quảng đại đáp trả lời mời gọi của Đức Kitô, sẵn sàng từ bỏ gia đình, quê hương, xứ sở để ra đi lên đường đem Tin mừng Đức Giêsu Kitô đến cho mọi người.

Một phần nào như những trang phục thay đổi theo từng thời kỳ và tùy địa phương, những kiểu mẫu diễn tả sự thánh thiện cũng có phần đổi thay. Chẳng hạn, trong thời Trung cổ, có nhiều kiểu mẫu diễn tả sự thánh thiện rất khác biệt nhau. Lối sống thời này nhấn mạnh đến đời sống ẩn dật và ổn định (vĩnh cư). Chính vì thế, số tu sĩ nam nữ của đại gia đình Bênêdictô không ngừng gia tăng một cách rõ ràng như là dấu chỉ cho thấy đó là kiểu mẫu thánh thiện chính yếu dành cho những ai muốn hiến toàn thân cho Thiên Chúa. Lối sống Bênêdictô cung cấp một khung cảnh an hòa trong kỷ luật của lũy cấm, xa khỏi những cám dỗ của cuộc sống bình thường và không bị phân tâm chia trí hay bị căng thẳng do những sinh họat của đời tông đồ. Việc tuân giữ lề luật đan tu hoàn thiện như thế khiến cho người ta có cảm nhận rằng nước Thiên Đàng đã rất cận kề ngay tại dương gian này.

Nhưng rồi chính kiểu mẫu đó cũng lại bắt đầu thay đổi. Vào thế kỷ XII, một số Kitô hữu đạo đức bắt đầu cảm thấy nỗi khát mong được sống một đời sống đơn giản hơn, ít cơ chế hơn và ít bảo đảm hơn, và như vậy, gần gũi với Tin mừng hơn. Nhưng nguyện vọng đó, xét một cách toàn diện, không dễ dàng đạt được trong giai đoạn đó của Giáo Hội. Và từ đó, họ đâm ra e ngại thẩm quyền của Giáo Hội. Và cũng từ đó, vì lý do nào đó, họ đã tự tách rời khỏi Giáo Hội và bắt đầu giảng dạy những giáo thuyết lạ.

Khoảng đầu thế kỷ 13, một khủng hoảng lớn đã xảy ra tại nhiều nơi bên Âu châu, nhất là tại miền nam nước Pháp, nơi đã phát sinh một liên minh chống Giáo Hội. Với chủ thuyết nhị nguyên, liên minh này chủ trương rằng thế giới hữu hình này là xấu xa, do một thần xấu đối nghịch với Thiên Chúa tạo dựng.

Vấn đề trở đó càng trở nên phức tạp hơn khi phần lớn các Giám Mục, và linh mục không khéo trình bày đạo lý đích thực của Kitô giáo sao cho thật hấp dẫn và đầy tính thuyết phục. Trong khi những người theo bè rối lại sống một đời sống bề ngoài rất gương mẫu hơn hẳn hàng Giáo sĩ của Giáo Hội. Chính vì thế, dân chúng không nhận ra nổi chân dung đích thực của những người kế vị các tông đô nơi hàng giáo sĩ thời đó.

Trước bối cảnh đó, Giáo Hội hơn bao giờ hết cần phải đáp ứng những khát vọng tôn giáo của dân chúng ngay trong lòng Giáo Hội và làm sao để loan báo Tin Mừng Đức Kitô với một cung cách bình dân và dễ hiểu hơn.

Bằng những cách thức khác nhau, Thánh Đaminh và Thánh Phan-xi-cô đã thỏa mãn được nhu cầu này, vì cả hai vị đều áp dụng những lối sống tương tự như lối sống của chính các nhóm lạc giáo: can đảm sống nghèo triệt để và hoàn toàn phó thác vào Chúa quan phòng, dám sống mạo hiểm giữa trần gian, không ẩn dật theo kiểu sống đan tu, chấp nhận một lối sống dấn thân tích cực phục vụ tha nhân; riêng Thánh Đaminh, Ngài sống hết mình cho việc đi rao giảng và làm sao để lôi cuốn người khác cũng đi rao giảng và điều Ngài quan tâm hơn cả, đó là, làm sao để bản thân Ngài cũng như mọi anh em phải thấm nhuần giáo lý đức tin và có thể trình bầy giáo lý đó thật mạch lạc dễ hiểu.

Chẳng thế mà thi hào Dante đã mô tả Thánh Đaminh như “Người yêu nồng nàn của Đức tin Kitô giáo“. Nếu Thánh Phan-xi-cô yêu “Chị Nghèo“, thì Thánh Đaminh yêu đức tin Kitô giáo. Ước nguyện sục sôi của Ngài là đem Chân lý Đức tin đến cho mọi người, bởi vì chỉ có chân lý đức tin mới giải thoát và mang lại ơn cứu độ cho con người. Khi còn trẻ, Ngài đã luôn tha thiết nguyện xin Thiên Chúa ban cho Ngài một đức ái đích thực để có thể mang lại ơn cứu độ đến cho tha nhân một cách hữu hiệu, và Ngài hằng mong mỏi được tận hiến cả cuộc đời để phục vụ Tin Mừng như Chúa Kitô đã hiến thân trọn vẹn cho đến chết để cứu độ trần gian.

Thánh Đaminh hoàn toàn không nhằm tới kiếm tìm một lối sống đầy thuận lợi hay an toàn cho bản thân và cũng chẳng hề mơ ước sự trọn lành bản thân. Nhưng Ngài chỉ mong muốn được đi rao giảng Tin Mừng cho những nơi nào cần thiết nhất và bằng cách thức nào thích hợp nhất để Tin Mừng thực sự mang lại kết quả.

Và theo Ngài, cách thức tốt nhất để rao giảng Tin Mừng trong thời đại của Ngài là mô phỏng cách thức của các Tông đồ. Và cũng theo Ngài, đã hẳn một nhà giảng thuyết cần được Giáo Hội tiến cử, nhưng không có lý do gì mà một nhà giảng thuyết chính thức lại xử sự như một chức quyền thế tục. Ngài dứt khoát khước từ bất cứ địa vị nào khiến Ngài ở vào vị trí trên người khác và thi hành quyền bính trên họ. Theo quan điểm của Ngài, nhà giảng thuyết đến với dân chúng như một người hành khất van xin Thiên Chúa ban lời để mình rao giảng và nài xin con người cho cơm bánh để nuôi mình. Nhiều giáo sĩ và tu sĩ đã dây mình vào những công việc trần thế nhằm có được những quyền lợi và nghĩa vụ kinh tế. Làm như thế, không những họ không còn tập trung vào Tin Mừng, mà lại thường xuyên dẫn tới những căng thẳng lâu dài có liên quan đến dân chúng. Thánh Đaminh đã tự giải thoát mình khỏi những lo toan đó đó. Và cũng chính vì thế chúng ta mới hiểu được một trong những lý do căn bản để những người – nam cũng như nữ – cam kết thực hành đức khó nghèo và khiết tịnh trong Giáo Hội: đó chẳng qua chỉ là giúp họ đạt được sự tự do hiến trọn đời mình cho Chúa và cho Tin Mừng một cách vô vị lợi

Ngài cũng nhận thấy rằng Tin Mừng có thể bị bóp nghẹt bởi sự an toàn bảo đảm về mặt thiêng liêng cũng như vật chất. Các dòng đan tu rất ý thức về sự yếu đuối của con người nên đã thiết lập nhiều hình thức khôn ngoan tinh tế để gìn giữ các tu sĩ của họ. Nhưng nếu mối nguy cơ bị sa ngã không còn nữa thì sự mạo hiểm của đức ái cũng tiêu ma. Thánh Đaminh đã tái khẳng định giá trị của sự mạo hiểm, làm sao để cả con tim và tinh thần luôn rộng mở, rộng mở quảng đại như Abraham, và can đảm dõi theo những nẻo đường phiêu lưu trong việc vâng phục Thiên Chúa, để chỉ cậy dựa vào sự che chở của Thiên Chúa và sự trợ giúp của Đức Mẹ hơn là cậy nhờ vào sự canh phòng cẩn mật cá nhân.



Phép lạ cuốn sách không cháy

 

3. CON NGƯỜI TỰ DO CỦA TIN MỪNG

Vào dịp mừng 800 năm thế kỷ sinh nhật thánh Đaminh, Hồng Y Villot đã mô tả thánh nhân như một con người tự do rất đáng thán phục. Và tinh thần tự do được in đậm trong toàn bộ truyền thống Đaminh. Nó phát sinh do việc dám mạo hiểm tín thác nơi Thiên Chúa dám tin tưởng nơi lòng quảng đại của bất cứ con người nào.

Sở dĩ Thánh Đaminh áp dụng chế độ hành khất ngay từ buổi đầu khi Ngài thi hành tác vụ với tư cách của nhà giảng thuyết là vì Ngài dám cậy nhờ vào sự quảng đại của dân chúng trong việc họ cung cấp thực phẩm và những thứ cần thiết. Dĩ nhiên, Thánh Đaminh không muốn đương nhiên được giúp đỡ; mà Ngài tùy thuộc vào ý muốn tặng trao của họ một cách tự do.

Cũng vậy, Ngài không muốn ràng buộc quá chặt chẽ những ai theo Ngài, ép buộc họ tham gia vào nhóm Ngài. Tuy tỏ ra rất cương quyết và nghiêm khắc đối với những người thiển cận; nhưng Ngài làm thế chỉ vì muốn hướng dẫn họ tới lý tưởng mà chính họ đã chọn. Vì không muốn họ cảm thấy bị đe dọa hay khiếp sợ điều thiện hảo, nên ở đâu lúc nào Ngài cũng không hề canh chừng họ. Ngài càng không muốn họ mang mặc cảm tội lỗi khi họ vi phạm luật Dòng. Điều quan trọng tiên quyết là sự tự do và quảng đại trong việc phục vụ của họ.


4. TẤM LÒNG CHIA SỚT SẦU ĐAU

Nhiều tài liệu rất có ý nghĩa còn lưu lại nói về những tháng năm khởi đầu của Dòng Đaminh. Qua đó chúng ta biết được Thánh Đaminh đã sống như thế nào và đã phục vụ Thiên Chúa nơi Giáo Hội làm sao. Sau đây là những thí dụ.

Vào khoảng năm 1195, vào thời điểm Đaminh đang là sinh viên Cao đẳng Palencia, sau trở thành đại học đầu tiên của Tây ban nha; Ngài đang học Thần học ở đó thì có một nạn đói khủng khiếp và Đaminh đã bán những sách quí và đồ đạc của Ngài để có tiền giúp người nghèo. Gương của Ngài đã gợi hứng cho nhiều người khác noi theo, và sau đó, khi Ngài trở thành một nhà giảng thuyết, nhiều người đã theo Ngài.

Nhậy cảm trước đau khổ của người khác chính là đặc tính sâu sắc đã chi phối suốt cả cuộc đời của Thánh Đaminh và Ngài đã vận dụng tất cả năng lực của mình để tìm mọi cách thức, mọi biện pháp nhằm giải thoát con người khỏi khổ đau. Đã hai lần, khi không còn gì để bán nữa, Ngài xin được bán mình làm nô lệ để có tiền giúp đỡ những người nghèo khó.

Lòng trắc ẩn sâu sa đó của Ngài không chỉ biểu lộ ra bên ngoài một cách triệt để theo kiểu anh hùng cá nhân, mà theo Ngài, vấn đề quan yếu chính là làm sao thiết lập được một thể chế khả dĩ thi thố lòng quảng đại đó nữa. Chính vì thế, Ngài đã thiết lập một viện tế bần ở Palencia.