Home / Tài Liệu - Slides / Thần Học Đại Kết 4-4

Thần Học Đại Kết 4-4

 

Thần Học Đại Kết 4-4

Phần 4.

Những Hướng Đi Của Phong Trào Đại Kết

Lm Giuse Phan Tấn Thành op

Trong bài hôm nay, trước hết chúng ta hãy kiểm điểm những hướng đi của phong trào đại kết từ công đồng Vaticano II đến nay. Đồng thời, chúng ta thử tìm hiểu xem những dự án tương lai. Chúng tôi dựa trên hai tài liệu được công bố gần đây. Thứ nhất là Kim chỉ nam áp dụng những nguyên tắc và quy chuẩn của đại kết (Directory for the application of principles and norms on ecumenism) do “Hội đồng Tòa thánh cổ võ sự hợp nhất các Kitô hữu” (Pontificium Consilium ad Unitatem Christianorum Christianorum fovendam) xuất bản ngày 25/3/1993. (Nên biết rằng đây là danh xưng mới của Văn phòng Hợp nhất các kitô hữu kể từ khi cuộc cải tổ giáo triều Rôma năm 1988). Văn kiện thứ hai là thông điệp Ut unum sint của đức Gioan Phaolo II ban hành ngày 30/5/1995, (viết tắt UUS) gồm có ba chương với những tựa đề:

1) Sự dấn thân của Giáo hội công giáo vào công cuộc đại kết.

2) Các kết quả của sự đối thoại.

3) Đường còn xa lắm không?

Thông điệp trưng dẫn rất nhiều đoạn văn của công đồng Vaticano II và của Kim chỉ nam. Điểm khác biệt của thông điệp ở chỗ là một đàng kiểm điểm những thành quả do việc đối thoại; và đàng khác, phác họa những bước còn phải tiếp tục.

 

I. Những thành quả của cuộc đối thoại đại kết.

Khi đánh giá kết quả của công cuộc đối thoại đại kết trong thời gian 30 năm qua, thì nhiều người có cảm giác bi quan bởi vì mỗi phe cứ dậm chân tại chỗ! Thực ra thì cần thành thực thú nhận rằng không dễ gì xóa nhòa trong vòng 30 năm những vết thương và thành kiến đã mang từ bao thế kỷ. Tuy nhiên, chúng ta không nên chỉ đánh giá hậu quả của cuộc đối thoại qua các bản văn thần học hay qua những nghi thức sát nhập các Giáo hội. Chúng ta cần mở rộng tầm nhìn, hướng tới những hình thức khác nhau của cuộc đối thoại mà công đồng đã đề ra. Như chúng ta đã biết, có ba con đường chính: tinh thần; đạo lý, hợp tác.

A. Đại kết về tinh thần.

Bước đầu tiên của việc đại kết là cải hoán nội tâm. So với dĩ vãng, thiết tưởng không phải là chuyện nhỏ khi mà ngày nay các Kitô hữu không còn coi nhau như thù địch nữa nhưng họ đã biết nhìn nhận nhau như anh em. Hơn thế nữa, chúng ta không coi những người công giáo, chính thống, tin lành như là những phần tử thuộc ba tôn giáo khác nhau ! Đâu phải thế: tất cả đều là tín đồ của một tôn giáo mà thôi. Điều này được biểu lộ cách rõ rệt vào dịp các tôn giáo họp nhau để cầu nguyện cho hòa bình tại Assisi vào ngày 27/10/1986. Các tín đồ của mỗi tôn giáo cầu nguyện chung với nhau dựa theo lòng tin của mình: Ấn giáo, Phật giáo, Do thái giáo, Hồi giáo vv. Còn tất cả các Kitô hữu thì chỉ họp thành một nhóm, cho dù là công giáo, chính thống, lutero, Cải cách vv.

Trong lãnh vực thần học đại kết, ngoài việc các tín đồ Kitô giáo nhìn nhận nhau như anh em, người ta cố gắng tiến tới bước nhìn nhận các giáo hội như chị em (églises soeurs). Một dấu hiệu của tình nghĩa huynh đệ được biểu lộ qua các cuộc viếng thăm giữa các vị lãnh đạo tối cao của các Giáo hội, thí dụ các cuộc thăm viếng hỗ tương giữa ĐTC với các Thượng phụ chính thống, các Giáo chủ Cantebury của Anh giáo, hay Luther (UUS 24-25).

Trong lãnh vực đại kết tinh thần, không thể nào bỏ qua việc cầu nguyện. Ngoài những buổi cầu nguyện cho sự hợp nhất được diễn ra giữa lòng mỗi Giáo hội, còn phải kể tới các buổi cầu nguyện chung giữa các Giáo hội. Dù sao thì hằng năm hầu như hết các Giáo hội đều dành ra một tuần để cầu nguyện cho sự hợp nhất. Từ nhiều năm qua, các ý chỉ cầu nguyện được soạn do một tiểu ban hỗn hợp giữa công giáo và Hội đồng thế giới các Giáo hội. Một cử chỉ đáng để ý là năm 1994, đức Thượng phụ Constantinôpôli Bartôlômêo I đã nhận dọn những bài suy niệm các chặng đàng Thánh giá do ĐTC chủ sự ngày thứ 6 tuần thánh ở Rôma. Sang năm 1995 đến lượt của  nữ tu Minke de Vries, thuộc tu viện Tin lành Grandchamp bên Thụy sĩ.

Sự thông hiệp trong kinh nguyện đạt tới mức cao độ khi cử hành các bí tích, nhất là Thánh Thể. Giáo hội công giáo đã ra những quy luật về việc “thông công bí tích” (communicatio in sacris), với những cấp độ khác biệt tùy theo bản tính của từng bí tích cùng như đạo lý đức tin của của mỗi Giáo hội (xem bộ giáo luật latinh, đ.844; Kim chỉ nam số 122-136).

B. Đối thoại thần học.

Trên đường tìm về hợp nhất, sự đối thoại về đức ái phải đi đôi với sự đối thoại về chân lý (UUS 32). Những cuộc đối thoại thần học không phải nhằm vạch bới những điểm sai lầm, nhưng tiên vàn để đánh tan những thiên kiến, và trình bày cho nhau biết những cách thức suy tư hành động của mình. Sau đó cần phải chung nhau xét lại mức độ trung thành với chính chân lý là đức Kitô (xc UUS 33-35).

Các cuộc đối thoại thần học có thể diễn ra song phương hay đa phương.

1) Những cuộc đối thoại song phương đáng kể nhất là

– với các Giáo hội chính thống (ủy ban thần học hỗn hợp được thành lập từ năm 1980). Ba văn kiện đã được thông qua: “Mầu nhiệm Hội thánh và Thánh thể dưới ánh sáng của Chúa Ba ngôi” năm 1982; “Đức tin, bí tích và sự hợp nhất của Hội thánh” năm 1987; “Bí tích Truyền chức trong cơ chế bí tích của Hội thánh” năm 1988; chương trình làm việc dự trù văn kiện kế tiếp là “Quyền bính trong Hội thánh”.

– với các Giáo hội Đông phương đã ly khai từ công đồng Epheso và Calcedonia. Các Giáo hội này đã tuyên xưng thiên tính của đức Kitô theo đạo lý tông truyền (UUS 62).

– với các Giáo hội Luterô. Sau những thỏa thuận đã đạt về Lời Chúa (1972), Thánh Thể (1978), sự hợp nhất Giáo hội (1980; 1984) người ta hy vọng sẽ ký kết thỏa thuận về sự công chính hóa vào năm 1997.

– với Giáo hội Anh quốc: đạo lý về Thánh thể, tác vụ và quyền bính (1968), sự cứu rỗi (1987), sự thông hiệp (1990).

– với các Giáo hội khác, thì sự đối thoại tiến hành chậm hơn; tuy nhiên cũng đã có những thoả thuận với giáo hội cải cách (1984; 1990), metođist, baptist, pentecostalist …

Trên đây là nói sự đối thoại song phương giữa Công giáo và các Giáo Hội khác. Nhưng chúng ta không nên quên rằng giữa các Giáo hội ngoài Công giáo cũng có những đối thoại song phương khác.

2) Những cuộc đối thoại đa phương thường diễn ra nhờ ủy ban “Đức Tin và Định chế” (Faith and Order), với những văn kiện về “Bí tích rửa tội, thánh thể, tác vụ” (BEM), và “Bản giải thích đức tin tông truyền”.

Bên cạnh những cuộc đối thoại ở cấp hoàn cầu, cũng nên biết là còn những cuộc đối thoại ở cấp quốc gia. Đặc biệt tại Âu châu, Liên hiệp các Hội đồng giám mục của công giáo (Conférences épiscopales européennes) có những cuộc gặp gỡ thường xuyên với Hội đồng các Giáo hội Âu châu (Conférence des Eglises européennes).

Thông điệp Ut unum sint (số 79) cho biết còn có 5 điểm phải đào sâu thêm ngõ hầu có thể đạt tới sự nhất trí về đức tin: (1) mối liên hệ giữa Kinh thánh và Thánh truyền. (2) Thánh Thể như là bí tích của Mình Máu Chúa Giêsu, hiến lễ ngợi khen dâng lên Chúa Cha, hy lễ tưởng niệm và sự hiện diện của đức Kitô. (3) Bí tích truyền chức. (4) Huấn quyền của giáo hoàng và các giám mục. (5) Trinh nữ Maria. Thêm vào đó, các tuyên ngôn, kết quả của những cuộc đối thoại, cần phải được các Giáo hội tiếp nhận (receptio) và đem ra áp dụng (UUS số 80-81).

C. Đối thoại về hợp tác.

1. Hợp tác trong chứng tá đức tin. Có lẽ hình thức gây chú ý hơn cả là hợp tác trong việc dịch Kinh thánh. Nhưng đức Gioan Phaolô II muốn lưu ý tới một hình thức hùng hồn hơn nữa, đó là trong những cơn bách hại, các Kitô hữu đã cùng nhau làm chứng cho đức Kitô đến mức đổ máu đào. Các Giáo hội có thể viết chung một cuốn Tử đạo thư  (Martyrologium), (xem số 83-84 của thông điệp).

2. Hợp tác trong việc phụng sự nhân loại, tựa như bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi sinh, các công tác y tế từ thiện, các chương trình cứu trợ chống đói hay khi có thiên tai… (Social ecumenism).

 

 

II. Đường còn xa lắm không ? (Quanta nobis est via)

Chừng nào các Kitô hữu mới được hợp thông hoàn toàn? Sự hợp thông ấy sẽ diễn ra qua hình thức nào?

Trải qua các cuộc đối thoại đại kết, nhiều đồ án khác nhau đã được đề ra.

1) Đồ án cũ nhất về phía Giáo hội công giáo là tất cả các chiên lạc phải ăn năn trở về tùng phục ĐTC. Mô hình này đã bị khai tử từ công đồng Vaticano II.

2) Một mô hình do các nhà thần học Luther đề  ra là “sát nhập hữu cơ” (organic union). Trong một Hội thánh hợp nhất, mỗi Giáo hội hiện tại phải nhường nhịn một phần cá tính của mình ngõ hầu hợp thành một cộng đồng mới. Do đó, không phải là các Giáo hội khác phải trở về với Giáo hội công giáo, mà cả Giáo hội công giáo cũng phải nhường nhịn một số yêu sách để tiến tới hợp nhất (unity in reconciled diversity). Nguyên ủy của sự hợp nhất không hẳn là Đức Giáo hoàng.

3) Đối lại với hai mô hình vừa nói (chủ trương một nguyên ủy hợp nhất), mô hình thứ ba cho rằng nguyên ủy ấy không cần. Sự hợp nhất có thể thành hình theo mô thức “liên hiệp” (confederation), nhằm một mục tiêu hợp tác trong những lãnh vực thực tiễn (unity as solidarity). Nói khác đi, mô hình này muốn bảo vệ tính cách đa nguyên của các Giáo hội.

4) Mô hình thứ tư xin phó thác sự hợp nhất cho Chúa quan phòng. Thay vì mơ tưởng những dự án viễn vông lâu dài, một số người chủ trương đi từng bước một, qua sự nhìn nhận đạo lý và tác vụ song phương. Thí dụ tại Âu châu, các Giáo hội Luther và Calvino đã thỏa thuận với nhau về những điểm chính yếu; vì vậy họ chấp nhận cho các tín hữu đôi bên có thể tham dự vào các lễ nghi phụng tự của nhau, và các mục sư có thể đồng tế hay cử hành trong nhà thờ của đôi bên. Đây là hình thức “nhìn nhận hỗ tương” (mutual recognition).

5) Các Giáo hội chính thống thì đưa ra mô hình gọi là “thông hiệp công đồng” (conciliar fellowship): công đồng sẽ đóng vai thẩm quyền tối cao trong Hội thánh, duy trì mối hiệp thông giữa các giáo hội; còn mỗi giáo hội thì sẽ được quyền duy trì sắc thái của mình. Tiếc rằng chính các Giáo hội chính thống cũng chưa triệu tập nổi một công đồng liên chính thống nữa.

6) Về phía công giáo, một yêu sách của sự hiệp nhất là phải có một nguyên ủy ở nơi Giám mục Rôma. Điều này được đức Gioan Phaolo II tái khẳng định ở thông điệp “Ut unum sint” (số 89). Tuy nhiên, ngài cũng thêm rằng vai trò nguyên ủy ấy cần phải được hình dung theo thể thức đã có vào ngàn năm thứ nhất (số 95), trong sự thông hiệp với cộng đoàn Giám mục. Nói thế cũng có nghĩa là một Hội thánh hợp nhất không phải là một dự án tưởng tượng sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng nó là một thực tại đã có trong lịch sử rồi. Trong quá khứ, các Giáo hội đã có kinh nghiệm chung sống với nhau, đã duy trì mối dây thông hiệp tuy dù có những khác biệt về truyền thống thần học, phụng vụ, kỷ luật.

Tuy dù mô hình hợp nhất thuộc quá khứ hay thuộc tương lai, sự thực đau thương là các Kitô hữu vẫn còn chia rẽ. Bổn phận của mỗi người chúng ta là nỗ lực góp phần vào việc kiến tạo sự hợp nhất, ít là qua việc cầu nguyện và cải hoán.