Home / Giáo Dục - Gia Đình / Sống Phúc âm trong gia đình

Sống Phúc âm trong gia đình

 

Sống Phúc âm trong gia đình

Là Kitô hữu mà không biết đến Kinh Thánh,
không biết Tin mừng, thì không còn phải là Kitô hữu nữa, như lời thánh Hiêrônimô nói:
“Không biết Kinh Thánh, là không biết Đức Kitô”.

 

Dẫn nhập

Phải chăng có một sự chuyển tiếp thật hài hòa từ Năm Đức tin đến Năm Phúc âm hóa gia đình? Tôi tin là có, vì sống đức tin là gì, nếu không phải là tái khám phá dung mạo của Đức Kitô và giáo huấn của Người đặc biệt trong Phúc âm, để từ đó vui sống Phúc âm trong đời sống cá nhân và gia đình, để Phúc âm hóa chính gia đình mình và Phúc âm hóa xã hội?

1. Phúc âm hóa hay tân Phúc âm hóa nghĩa là gì?

Trong tập Bài giảng Chúa Nhật của Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, tháng 2-2013, mục “Mỗi tháng một từ”, linh mục Huỳnh Trụ đã đưa ra một nghiên cứu công phu về ý nghĩa của sứ mạng Tân Phúc âm hóa, trong đó ngài bàn về nghĩa Hán văn của từng từ mà ở đây chỉ tóm tắt những gì cốt yếu giúp ta hiểu thôi.

Nghĩa chữ “Tân”: Tân có 12 chữ Hán, nghĩa chính là: “mới”, thay đổi cho mới, những cái mới, những gì mới xuất hiện.

Nghĩa chữ “Phúc”: Phúc có 9 chữ Hán, nghĩa chính là: những sự tốt lành, điều may, những điều tốt đẹp trời đất ban để thỏa mãn nguyện vọng của con người.

Nghĩa chữ “Âm”: Âm có 11 chữ Hán, nghĩa chính là tiếng phát ra bởi vật thể bị chấn động, tin tức.

Nghĩa chữ “Hóa”: Hóa có 2 chữ Hán, nghĩa chính là dạy, giáo dục, thay đổi, biến chất. Nếu đặt sau danh từ hay tĩnh từ thì có nghĩa là chuyển biến trạng thái hay tính chất của vật, làm cho trở thành, biến thành, làm cho thấm nhuần.

Trong cụm từ Tân Phúc-âm-hóa phải lưu ý phân biệt, nếu coi Tân là bổ nghĩa cho Phúc-âm-hóa thì mới hiểu được là việc hay công cuộc Phúc-Âm-hóa được đổi mới, canh tân. Nếu coi Tân chỉ bổ nghĩa cho Phúc âm mà thôi thì sẽ là Phúc âm mới: ta nghĩ xem có Phúc âm mới không, nếu có thì nó thế nào? Đương nhiên là không! Không bao giờ có Phúc âm mới, vì trên trần gian này mãi mãi chỉ có một Phúc âm duy nhất mà Đức Giêsu Kitô đem đến cho mọi người “Đức Giêsu Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi là một” (Dt,13,8).

Khi nói đến Tân Phúc âm hóa hay Tái Phúc âm hóa thì điều đó có nghĩa trước đó đã phải tồn tại việc Phúc âm hóa. Tài liệu làm việc của Thượng hội đồng giám mục thế giới họp năm 1974 về đề tài “Evangelization in the Modern World”cho biết rằng thuật ngữ Phúc âm hóa [evangelization] có thể hiểu theo bốn nghĩa:

– Nghĩa rộng: tất cả mọi công việc nhằm làm cho thế giới trở nên phù hợp với kế hoặch của Thiên Chúa.

– Nghĩa hẹp: việc thi hành các hoạt động ngôn sứ, tư tế và vương đế nhằm xây dựng Hội Thánh theo ý định của Chúa Kitô. Theo nhĩa này, nó đồng nghĩa với sứ mạng đặc thù của của Hội Thánh (để phân biệt với hoạt động của các tổ chức hoặc xã hội trần thế).

Nghĩa chặt: tất cả những hoạt động nhằm giúp lương dân nhận biết Chúa cũng như giúp các tín hữu sống đức tin. Nghĩa là giới hạn vào việc thi hành công tác ngôn sứ (rao giảng Tin mừng, dạy giáo lý, giảng thuyết, v.v).

Nghĩa chuyên môn: việc rao giảng Tin mừng cho những người chưa biết Chúa.

Cũng theo linh mục Huỳnh Trụ, Phúc âm hay Tin mừng là cụm từ dịch tiếng Hi Lạp euaggelion nghĩa là tin vui thắng trận. Thời trước đây quen gọi là Evan: đọc Evan, sách Evan. Sau mới dịch là Phúc âm. Tin mừng chỉ có nội dung đơn giản (tin chiến thắng, tin vui, tin lành) còn Phúc âm thì có nội dung rất phong phú, sâu sắc, bao hàm nhiều điều tốt đẹp may mắn trời đất cho, để con người được thỏa mãn mơ ước của mình, lại gần với triết lý và văn hóa Đông Phương, có Ngũ Phúc hay Phúc Lộc Thọ, nhất là có thể hội nhập với giáo lý Kitô giáo.

Dù từ Phúc âm hóa có mang nhiều nghĩa khác nhau đi nữa, nhưng tựu trung có nguồn gốc từ euangelion trong tiếng Hy Lạp, và evangelium trong La ngữ có nghĩa là tin vui, hay Tin mừng, mà trong Kitô giới, quy chiếu về chính con người của Đức Giêsu, triều đại của Người, cuộc sống và giáo huấn của Người, mà theo nghĩa hẹp hẹp chỉ về bốn cuốn Phúc âm, hay Tin mừng của Đức Giêsu Kitô theo thánh Mathêu, Máccô, Luca và Gioan.

Đối với Kitô giới, Tin mừng đã thực sự khởi đầu với lời sứ thần loan tin cho các mục đồng về việc Đấng Cứu Thế sinh ra trong thành Bêlem:

“Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một Tin mừng trọng đại, cũng là Tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.
(Lc 2, 10-14).

Và lời loan tin này đã trở thành Tin mừng thực sự với lời loan báo Tin mừng Phục sinh của bà Maria Madalêna: Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà(Ga 20, 18).

Vậy Phúc âm hay Tin mừng không gì khác hơn là chính Đức Giêsu Kitô, con người và sứ điệp của Người, là chính cuộc đời Người, lời nói và hành động, đặc biệt nhất là sự chết và phục sinh của Người

Như thế Tin mừng đã được loan báo hơn 2000 năm khởi đầu với Đức Giêsu, đến các tông đồ và cho đến ngày nay. Ai cũng biết rằng đối với Kitô giới, Kinh Thánh là kim chỉ nam, là thủ bản của đời sống đức tin, mà trong đó có Bốn Tin mừng là quy chiếu có giá trị hơn cả về con người và giáo huấn của Đức Kitô.

Là Kitô hữu mà không biết đến Kinh Thánh, không biết Tin mừng thì không còn phải là Kitô hữu nữa, như lời thánh Hiêrônimô nói: “Không biết Kinh Thánh, là không biết Đức Kitô”. Lẽ ra Kinh Thánh, Tin mừng, phải là là cuốn sách được đọc trước tiên, đọc nhiều nhất, cuốn sách đầu giường, cuốn sách được tham khảo niều nhất, thậm chí thuộc nằm lòng nhất đối với Kitô hữu. Nhưng sự thật lại không phải như thế. Vì sao vậy?

2. Vì sao phải tái Phúc âm hóa hay tân Phúc âm hóa?

Thật ra, trong thời Giáo hội sơ khai, cộng đoàn tín hữu thường họp nhau đặc biệt vào chủ nhật để cử hành phụng vụ và đương nhiên đều đề cập đến Kinh Thánh, đến Tin mừng truyền miệng được các tông đồ và các vị kế vị thuật lại. Có thể nói trong các thế kỷ đầu, Lời Chúa nói chung được đề cao, chiếm vị trí ưu tiên. Nhưng rồi với những cuộc tranh cãi liên quan đến nhân tính và thiên tính của Đức Giêsu, người ta bắt đầu hướng chú ý sang triết học và thần học, Kinh Thánh trong nhiều thế kỷ đã bị quên lãng ngay cả trong các thành phần lãnh đạo của Giáo hội, mãi cho đến thế kỷ thứ 13, nhờ công lao của thánh Phaxicô và Đôminicô, Giáo hội mới được nhắc nhở quay lại với Kinh Thánh, nhưng sau đó một thời gian lại bị rơi vào quên lãng, cho đến thời kỳ cải cách Tin Lành đặc biệt với Luther, Kinh Thánh mới được dịch ra và in ra lần đầu tiên phổ biến đến tay công chúng, và qua đó Giáo hội Công giáo mới giật mình mà trở về vơi Kinh Thánh, đào sâu Kinh Thánh, qua công đồng Trento.

Nhưng điều đáng tiếc thay là cái quá khứ lãng quên thờ ơ hay ngại ngùng đụng đến Kinh Thánh đó trong thành phần lãnh đạo Giáo hội Công giáo đó đã để lại một ảnh hưởng tai hại trong tín hữu Công giáo mãi cho đến ngày nay. Nếu như đối với người Hồi giáo, việc học Kinh Kôran là điều bắt buộc từ nhỏ, đối với anh em Tin Lành, họ được dạy dỗ cũng từ nhỏ có thói quen mang Kinh Thánh theo mình, đối với đại đa số người Công giáo, Kinh Thánh là một cuốn sách nằm trong thư viện cổ kính, phủ bụi, dành cho linh mục tu sĩ, chỉ họa hiếm tham khảo khi cần, hoặc may thay, chỉ được biết đến qua thánh lễ chủ nhật hay ngày thường. Có thể nói một cách chua chát đáng buồn trong Giáo hội Công giáo, người ta đã có sách bổn, sách Giáo lý, sách kinh rồi cần gì Kinh Thánh nữa. Có cũng được, không có cũng chẳng chết ai. Có những phong trào kêu gọi cổ vũ đọc, học Kinh Thánh, đọc Kinh Thánh trong gia đình đó, nhưng chỉ có tính phong trào. Không biết được bao nhiều nhà người công giáo có Kinh Thánh, hoặc có khi trong nhà cũng có đó, nhưng hổng biết nó nằm chỗ nào, hoặc nó nằm hoài ở một góc nào đó phủ đầy bụi với bao nhiều năm tháng trôi qua…

Làm sao sống Phúc âm nếu không biết đến Phúc âm? Nhưng biết Phúc âm là biết thế nào? Có những người giao tiếp quen biết nhiều người lắm. Biết tên, biết tuổi, biết nghề nghiệp nhà ở thế thôi. Có những người cũng biết Kinh Thánh đấy, biết nó gồm có mấy phần, mấy tác giả, mấy chương…, nhưng lại không biết sứ điệp chính yếu, nội dung chủ yếu mà Kinh Thánh muốn chuyển tải. Và cho dù biết Phúc âm đi nữa điều đó có làm cho người ta sống theo Phúc âm không lại là chuyện khác. Chính vì thế, lời mời gọi sống Phúc âm vẫn luôn là một lời mời gọi mang tính thời sự.

Hơn nữa, Kinh Thánh viết bằng lời, cuốn viết gần đây nhất cách đây cũng cả hai mươi thế kỷ, trong khi người ta đang sống vào thế kỷ 21 với biết bao nhiêu thay đổi, với biết bao thách đố về mọi mặt. Chính vì thế cần phải tái khám phá Kinh Thánh hoài, vì Lời Chúa là lời hằng sống. Nó không nằm ở chữ viết bởi chử viết vốn có giới hạn bởi không gian và thời gian nhưng nằm ở sự linh hứng và soi sáng của Thần Khí như Thánh Phaolô nói” Chữ viết giết chết, nhưng chính tinh thần làm cho sống” (2 Cr 3, 6).

Ngoài ra, con người sống đầu đội trời, chân đạp đất, trời thì xa, nhưng đất lại quá gần; bởi thế con người ít nhiều đều bị bị lây nhiễm bởi môi trường mà mình sống, nơi mình hít thở mỗi ngày không khí độc hại không chỉ bởi bụi bặm, khói mù, khí độc ô nhiểm mà còn bởi hơi hướng của “nền văn minh sự chết” theo ngôn ngữ của Đức Chân phúc Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Đấng mà từ năm 1978 đã kêu gọi việc Tân (tái) Phúc âm hóa. Và từ đó cho đến nay, rất nhiều lần lời kêu gọi ấy được lặp đi lặp lại, vậy ta lại hỏi tại sao bây giờ lại kêu gọi tái Phúc âm hóa nữa?

Cũng giống như thể mỗi ngày ta phải hít vào những khí độc hại, nên ta cần phải hít oxy đào thải cacbônít; thì ta cũng cần được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và được nhắc nhở hằng ngày để loại trừ khỏi ta ảnh hưởng độc hại của văn mình sự chết từ môi trường sống của xã hội và để lướt thắng những cám dỗ ma quỷ, thế gian và xác thịt, như kinh nghiệm của Đức Giêsu bị cám ỗ trong hoang địa. Phúc âm ghi lại: Sau khi tìm hết cách để tấn công Đức Giêsu đều thất bại (vì Người đã ứng đối bằng chính lời Kinh Thánh), nên chúng tạm rút lui để chờ dịp thuận tiện khác. Điều đó cho thấy bao lâu ta còn sống trên đời này, là ta vẫn còn bị cám dỗ để đi lạc, trệch khỏi cùng đích của mình, chính vì thế ta cần phải không ngừng được nuôi bằng Lời Chúa, để có thể đạt được mục đích tối hậu của ta.

Hơn nữa con người ngày nay sống trên thế gian này, tuy bản thân luôn khao khát đích thực, nhưng do bản thân mê muội, chỉ tìm kiếm những thú vui trần tục, dễ dãi và chóng qua chỉ làm cho mình càng lúc càng thêm hụt hẫng chán chường. Chính vì thế con người ngày nay hơn bao giờ hết cần được tái khám phá Lời Chúa là Lời hằng sống, tái khám phá niềm vui đích thực mà Đức Giêsu đã hứa ban cho các môn đệ của Người, hạnh phúc sung mãn.

3. Vì sao phải Phúc âm hóa gia đình?

Vì sao Giáo hội kêu gọi sống Phúc âm trong gia đình bằng việc dành cả một năm cho việc Phúc âm hóa gia đình? Ai cũng nhận ra rằng gia đình là nền tảng của xã hội, và của Giáo hội. Không thể nào có một xã hội tốt đẹp, một Giáo hội thánh thiện mà không có những gia đình đạo đức thánh thiện. Đặc biệt cuốn sách How the West Really Lost God (tạm dịch Vì sao Phướng Tây đánh mất Thiên Chúa?) được xuất bản vào tháng 4 năm 2013, tác giả Mary Eberstadt đã chứng minh rằng đời sống đạo ở phương Tây bị suy giảm là do cơ cấu gia đình truyền thống bị phá vỡ. Lí thuyết này đã được nhiều học giả đón nhận một cách khá tâm đắc. Trước đó, người ta cho rằng những vấn đề như đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế, di họa chiến tranh… tác động đến đời sống đạo của phương Tây. Nhưng với những gì bà Mary Eberstadt trình bày, ngày nay người ta tin rằng lí do chính yếu của sự suy thoái đời sống đạo ở phương Tây chính là sự khủng hoảng của cơ cấu gia đình truyền thống.

Và cứ tìm hiểu nguyên nhân của những trẻ em phạm pháp ta sẽ nhận thấy rằng hầu hết các trường hợp đều xuất phát từ những gia đình tan vỡ, hay rạn nứt: cha mẹ li dị, chia tay, sống lang bang, bất hòa chia rẽ…

4. Vì sao việc Phúc âm hóa chưa đạt kết quả bao nhiêu?

Do đâu mà lời kêu gọi Phúc âm hóa vẫn chưa thực sự mang lại kết quả mong muốn? Vì rất nhiều lý do:

Trước tiên do bản thân những người thực hiện sứ mạng Phúc âm hóa chưa thực sự sống Phúc âm, hay chưa cảm thấy được niềm vui thực sự của việc sống Phúc âm mà có khi chỉ thực hiện như một việc phải làm, như một nhiệm vụ phải thi hành mà thôi.

Làm sao có thể thực hiện sứ mạng Phúc âm hóa, hay Tân Phúc âm hóa khi bản thân ta không biết, không sống Phúc âm, không cảm thấy Phúc âm thực sự là lời mang lại hạnh phúc cho chính bản thân mình, không cảm thấy Tin mừng mà mình rao giảng là Tin mang đến niềm vui đích thực cho cuộc đời mình.

Thật nguy hiểm biết bao nếu những đấng bậc quen làm thầy giảng, mắc bệnh nghề nghiệp chỉ chú tâm sao giảng cho hay, cho trung thành với những đòi hỏi của Phúc âm nhưng lại lơ là hay quên bẳng việc sống điều mình giảng. Chính vì kinh nghiệm hiện sinh đáng buồn này mà trong lời huấn từ của Đức giám mục chủ phong đối với các tân chức đều lặp lại công thức này: Con hãy tin điều mình đọc, dạy điều mình tin, sống điều mình dạy. Chính vì thế có gì lạ đâu khi người người Công giáo vẫn đi lễ được nghe các linh mục giảng hằng tuần, thậm chí hằng ngày chưa nói là còn tham gia những khóa học Kinh thánh, hay Giáo lý từ bao nhiêu năm rồi mà thử hỏi được bao nhiêu người cảm nhận được niềm vui của ơn giải thoát và cứu độ mà Đức Giêsu mang đến và trở nên nhân chứng cho Tin mừng? Hay bổn phận của linh mục là rao giảng, thì cứ giảng, bổn phận giáo dân lắng nghe, thì cứ nghe, ai cũng cảm thảm thấy mình làm tròn bổn phận với lương tâm còn Lời Chúa thì vẫn cứ nằm yên nguyên trong sách, trên giá sách, trong tủ sách. Dụ ngôn người gieo giống mà Phúc âm Nhất Lãm tường thuật quả là một thực tế đáng buồn của việc đón nhận Lời Chúa. Biết bao nhiêu hạt giống Lời Chúa bị chim trời ăn hết (nghe qua loa chiếu lệ, tai này qua tai khác), biết bao nhiêu hạt giống rơi vào đá sỏi (nghe cho hay, cho đã thôi nhưng không thực hành), biết bao nhiêu hạt giống rơi vào bụi gai (nghe nhiều nhưng chẳng thấm được bao nhiêu vì chuộng tiền tài, danh vọng, thú vui trần thế hơn…)

Và đáng buồn hơn nữa, như lời một linh mục giảng tĩnh tâm mà tôi nghe được thành thực thú nhận qua câu chuyện khôi hài như sau: một giáo dân nọ tâm sự: “Thưa cha khi nghe cha xứ con giảng thì con nghĩ mình không có cửa vào thiên đàng, còn xa lắm, nhưng khi thấy cha xứ con sống thì con mới chợt mừng vì nghĩ rằng mình còn có cửa chán…”

Kế đến, trong quá khứ, việc Phúc âm hóa là một sứ mạng dường như được hiểu chỉ dành cho hàng giáo sĩ, tu sĩ chứ không được coi là sứ mạng của giáo dân. Ví thế việc này không có kết quả bao nhiêu vì Phúc âm không thể thâm nhập vào môi trường xã hội.

Tiếc rằng việc độc quyền diễn giải Lời Chúa và thái độ nghi ngờ của chủ chăn Giáo hội công giáo về khả năng tiếp nhận Kinh Thánh của giáo dân trong một thời gian quá dài đã tạo nên một hậu quả vô cùng đáng tiếc đối với thái độ tiếp cận của giáo dân đối với Kinh Thánh: không quan tâm, thụ động, e dè vì nghĩ rằng không phải là việc của mình, mình không có quyền, không có đủ khả năng tiếp cận với Lời Chúa để từ đó hài lòng với việc lắng nghe thụ động qua loa (chữ được chữ mất) trong thánh lễ chủ yếu vào ngày chủ nhật qua các bài đọc và bài giảng của chủ tế mà thôi.

Bởi nếu những chứng từ của những linh mục, tu sĩ thánh thiện nếu có lôi cuốn làm cho người ta cũng nghe cho là hay thôi nhưng không noi theo vì người đời đâu xem họ là người phàm, mà là thầy tu, là thánh sẵn rồi nên mới làm được còn giáo dân cũng người phàm mắt thịt như ai, nếu thực sự trở thánh thì mới có thể làm chứng tá sống động và hữu hiệu được.

Ngoài ra, những người thực hiện sứ mạng này chưa được đào tạo đầy đủ đúng nghĩa để có một ngôn ngữ, một cung cách, phương pháp, phương thế phù hợp để là cho các giá trị Phúc âm có thể được đón nhận một cách hữu hiệu bởi môi trường, chưa nói đôi khi còn tỏ những thái độ áp đặt, thiếu hiểu biết, thiếu khôn ngoan còn tạo nên những thành kiến xấu đối với môi trường mà mình tiếp xúc.

Và hơn nữa do sự phản kháng thờ ơ của người tiếp nhận vì bản thân họ không có phương hướng, bị đánh trôi dạt theo mọi tư tưởng sai lạc, phù phiếm và thái độ chuộng dễ dãi và vì sự lan tràn bầu khí ô nhiểm của nền văn minh sự chết thể hiện qua việc chối bỏ Thiên Chúa, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa hưởng thụ, trào lưu tục hóa, chủ nghĩa tương đối hóa, chủ nghĩa thực dụng,

Vì người ta chưa ý thức và nhận ra rằng Lời Chúa quý giá như như thửa ruộng chứa đựng kho báu mà người kia bổng dưng khám phá vội vàng chôn lại liền, rồi mau mắn bán hết nhà cửa ruộng vườn của mình để tậu thửa ruộng đó, hoặc như viên ngọc qúy mà người lái buôn đó tình cờ phát hiện, đã bán đi hết tất cả những gì mình có để mua lấy viên ngọc ấy (Mt 13, 44-46). Tiếc thay, kho tàng vẫn mãi bị chôn giấu, chưa được tìm kiếm khám phá, thì làm sao nói đến chuyện khai thác. Viên ngọc vẫn mãi còn đâu đó, thậm chỉ nằm trong góc xó nào đó chưa được phát hiện. Bởi người ta mãi mê chạy theo những ham mê của thế gian chẳng cần phải bỏ công, cất công lên đường tìm kiếm mà có đầy dẩy trước mắt sẳn sàng phục vụ mọi nơi mọi lúc. Người ta có đủ thứ lý do để từ chối không tham dự bàn tiệc bàn tiệc Lời Chúa.

5. Thế nào là sống Phúc âm trong gia đình ?

Sống Phúc âm là bổn phận của mọi Kitô hữu. Đã là Kitô hữu, thì không thể không biết và không sống Phúc âm. Dù sống ở bậc sống nào, linh mục, tu sĩ, giáo dân đều phải sống Phúc âm, mỗi người theo mỗi cách phù hợp với ơn gọi, bậc sống và vị trí của mình.

Cũng là mệnh lệnh sống bác ái, nhưng bác ái đối với các linh mục chủ yếu là yêu thương những anh em linh mục cùng chung một giáo xứ, yêu thương chăm sóc cho đàn chiên mình được sống và sống dồi dào; đối với tu sĩ chủ yếu là yêu thương những anh em tu sĩ trong chính cộng đoàn mình, và những người mà mình được sai đến phục vụ, hay đến với mình; còn đối với giáo dân, đối tượng yêu thương chủ yếu và trước tiên phải là những người trong gia đình mình, rồi mới đến láng giềng, giáo xứ, nơi làm việc…

Và hãy nhớ rằng ta không thể yêu thương hết mọi người, nếu ta chưa bao giờ thực sự yêu thương một con người. Ngày nay không ít các giáo dân rất tích cực phục vụ cho giáo xứ, hay cho côn tác từ thiện đấy đó, thậm chí có thể là những điển hình đáng khen, làm ông nọ bà kia nhưng lại thờ ơ với chính những người sống trong gia đình mình, với vợ/chồng cha mẹ, con cái, anh chị em ruột thịt của mình, chểnh mảng việc gia đình.

Vẫn biết rằng giáo xứ nào cũng cần có giáo dân cộng tác với hàng linh mục, thậm chí có những nơi cha xứ tận dụng tối đa thời gian công sức của giáo dân cho họ đạo đến nỗi có những trường hợp giỏi việc Chúa, việc chùa mà giở việc nhà. Hoặc cũng có trường hợp hoạt động giáo xứ cũng là một cách xả stress ở gia đình, hay trốn tránh đụng chạm với những người trong chính gia đình mình. Xét về một mặt nào đó, đây cũng là một liệu pháp cần thiết để đảm bảo sức khỏe tâm sinh lý cho người ấy, nhưng đó không bao giờ là lời mời gọi của Tin mừng cả.

Tình yêu đích thực phải khởi đi từ chính mình, yêu chính mình, sau đó đến những người thân cận nhất là vợ/chồng con cái, cha mẹ, anh em rồi mới đến bên ngoài. Có những người chỉ thương con mà không thương vợ chồng. Thương con thực sự trước tiên là thương vợ chồng là thương mẹ/cha của chúng là người sinh thành ra chúng và chúng chỉ có thể hạnh phục thực sự, phát triển hài hòa khi hót thở bầu khí yêu thương: tình thương của cha mẹ chúng dành cho nhau và dành cho chúng. Chính vì thế đừng bao giờ tìm cách tránh né hay đánh lừa lương tâm của mình. Người đầu tiên mà mình phải yêu thương là vợ chồng mình, là cùng người cùng xương thịt với mình.

Vậy đối với người giáo dân, sống đời sống gia đình, sống Phúc âm là sống như thế nào nếu không phải là sống đạo làm con với Chúa, sống đạo vợ chồng, sống đạo cha mẹ-con cái, con cái-cha mẹ, sống đạo huynh đệ giữa anh chị em cùng một nhà và với mọi người xung quanh .

Ai cũng biết rằng trọng tâm của sứ điệp Phúc âm là Tình yêu, và mệnh lệnh, lời mời gọi quan trọng nhất của Phúc âm cũng là Tình yêu. “Giới răn quan trọng nhất là yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn, và yêu tha nhân như chính mình” (Lc 10, 25-28). Và “điều răn mới thầy truyền dạy cho anh em là hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13, 34-35]

Toàn bộ Phúc âm là một lời minh giải, quảng diễn về tình yêu vì tất cả bốn Phúc âm đều tập trung và xoay quanh con người của Đức Giêsu, chính là hiện thân của Tình yêu, là Tình yêu mang lấy xác phàm, được cụ thể hóa, diễn tả một cách trọn vẹn nơi con người của Đức Giêsu, trong cử chỉ, lời nói và hành động của Người vì thế sống Phúc âm trước hết là chiêm ngắm chính Đức Giêsu trong Phúc âm, là để Lời của Người thấm nhập vào lòng ta, là để cử chỉ và hành động của Người in sâu vào tâm trí ta, là đi vào một cuộc gặp gỡ cá vị với Người để Người biến đổi cái nhìn của ta, lòng trí ta và cuộc đời của ta để từ đó ta có thể ứng xử như chính Người trong từng giây phút sống hiện tại của đời ta.

Bênh cạnh những giáo huấn của Phúc âm, chúng ta có thể áp dụng những lời dạy của thánh Phaolô một cách đặc biệt cho đời sống vợ chồng và đời sống gia đình. Đối với thánh nhân, đức ái là là điều hệ trọng hơn cả trong cuộc sống. Đức ái khởi đi từ con tim, từ thiện ý rồi mới thể hiện ra ngoài qua cử chỉ, lời nói và hành động. Khác với ích kỷ và vị kỷ là sự qui hướng mọi sự về bản thân (egoism, từ ego, tiếng la tinh có nghĩa là cái tôi), đức ái lại hướng đến tha nhân (altruism, từ alter, tiếng la tinh có nghĩa là tha nhân) khởi đi từ ý hướng trong tâm hồn.

Đức ái được thể hiện qua những điều sau:

Biểu hiện tiêu cực: không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác.

Biểu hiện tích cực: nhẫn nhục, hiền hậu, vui khi thấy điều chân thật, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả.

Những biểu hiện qua của tình yêu trong bài ca Đức ái được xem như một trắc nghiệm về tình yêu đích thực, một bản xét mình về tình yêu nói chung và tình yêu vợ chồng nói riêng, trong đó bằng chứng hùng hồn nhất rõ ràng nhất chính là sự chung thủy yêu thương đến trọn đời Ðức ái là không bao giờ mất được, Đây chính là kiểm chứng của tình yêu, đặc biệt tình yêu vợ chồng. Đây cũng chính là điều mà đôi vợ chồng đã thề hừa với nhau khi cử hành Bí tích Hôn phối.

Sau đây là những lời giáo huấn cụ thể về đức ái:

Mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận vì chúng ta là phần thân thể của nhau.

Anh em nổi nóng ư? Đừng phạm tội: Đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.

Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp để xây dựng và làm ích cho người nghe.

Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô (Ep 4, 25-32).

Hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau.

Đừng làm gì vì ganh tỵ vì hư danh nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác hơn mình.

Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác.

Giữa anh em hãy có tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu (Pl, 2, 2-5).

Như những người được Thiên Chúa tuyển chọn, những người thánh và được yêu thương, anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm nhường, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau, nếu người này có chuyện phải trách cứ người kia. Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Trên hết những điều ấy, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây liên kết điều toàn thiện… Với tất cả sự khôn ngoan, anh em hãy dạy dỗ và chỉ bảo lẫn nhau. Tất cả những gì anh em làm, trong lời nói cũng như trong hành động, anh em hãy làm vì danh Chúa Giêsu, nhờ Người mà tạ ơn Thiên Chúa Cha (Cl 3,12-17).

Hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn ở nhân hậu và khiêm tốn. Đừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa, nhưng trái lại hãy chúc phúc vì anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc (Pr 3, 8-9).

Nếu có ai vướng mắc tội nào, anh em những người được Thần Khí thúc đẩy hãy lấy tinh thần hiền hòa mà sửa dạy người ấy. Anh em hãy mang gánh năng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô (Gl 6, 1-3).

6. Sống Đạo làm người theo tinh thần Kitô giáo

Trong Kitô giáo, không thể quan niệm tách rời Con Thiên Chúa với Người Con là hình ảnh của con người đích thật Chúa dựng nên mà tất cả đều được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng.

6.1. Sống tình con thảo và huynh đệ, nền tảng của mọi tương quan

Nhân bản Kitô có nền tảng chủ yếu và sâu xa từ Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, là Trưởng tử của mọi loài thọ tạo. Vì thế sống đạo làm người là sống như Người.

– Để có thể sống tốt mọi tương quan, ta cần phải đào sâu và sống trọn hảo mối tương quan căn bản là con thảo đối với Thiên Chúa và là anh em đối với nhau như trong tuyên xưng của Kinh Lạy Cha.

– Ta chỉ có thể coi và đối xử với người khác như anh em nếu ta nhìn nhận Thiên Chúa là Cha của chúng ta và việc đối xử với nhau như anh em là dấu hiệu và bằng chứng của tình con thảo đối với cha mình như trong dụ ngôn Người Cha nhân hậu.

6.2. Thực thi giới luật yêu thương

Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.” (Ga 13, 34). Sống đạo làm người và làm con Chúa trong Kitô giáo là sống giới luật yêu thương: Kính mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương tha nhân như chính mình (Lc 10, 25-28)hay cao hơn nữa là như Thầy yêu thương(Ga 13, 34) .

– Kính mến Chúa trên hết mọi sự không phải chỉ nói lên bổn phận thờ phượng Chúa mà đúng hơn là quy chiếu đời mình theo Lời Chúa, là sống Lời Chúa và Lời Chúa dạy được đúc kết trong giới luật yêu thương, trong Điều răn mới: Chính vì thế tuy là hai mà thực sự chỉ là một giới luật. Kính Chúa là yêu người và yêu người đúng nghĩa là kính Chúa. “Hãy lấy đức ái mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này: Ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình.” (Gl 5, 13-14). “Hãy làm cho người khác điều con muốn người khác làm cho con” (Mt 7, 12; Lc 6, 31).

– Lời dạy được coi làkhuôn vàng thước ngọc trên đây không được hiểu theo nghĩa đen vì có điều mình thích người khác lại không thích và ngược lại. Nhưng phải được hiểu là yêu người khác như thể yêu mình. Nghĩa là nếu như mình không muốn ai làm phật lòng mình nhưng muốn người khác làm vừa lòng mình. Cũng vậy mình phải tránh làm phật lòng kẻ khác nghĩa là tránh gây thiệt hại, tổn thương, đau khổ cho kẻ khác và tìm cách làm vừa lòng kẻ khác, nghĩa là làm mọi điều tốt lành, thiện hảo cho kẻ khác.

6.3. Sống đạo vợ chồng

Điều cốt yếu để tạo quan hệ tốt đẹp trong đời sống vợ chồng là: “Vì lòng kính sợ Ðức Kitô, anh em hãy phục tùng lẫn nhau.”(Ep 5, 21)

– Sống tùng phục lẫn nhau là điều kiện không thể thiếu nhằm đạt được trật tự, hài hòa và bình an đặc biệt trong đời sống hôn nhân.

– Việc tùng phục lẫn nhau dựa trên lòng kính sợ Chúa, không hẳn dành cho một con người vì quyền hành của người ấy, vì sự trổi vượt của họ, nhưng đúng hơn là dành cho Đức Kitô, Đấng là sự thật và sự thật mà Đức Kitô có thể tỏ lộ qua người bạn đời của mình, bất luận là chồng hay vợ.

– Tùng phục là thái độ của người trưởng thành: sự tùng phục không thuộc về bản tính tự nhiên của nhân loại, không mang tính bộc phát do hậu quả của nguyên tội. Cần phải có một sự trưởng thành tâm sinh lý, tình cảm và tâm lý mới có thể tùng phục lẫn nhau nhằm giúp nhau cùng lớn lên và hiện thực hóa chính mình.

– Sự tùng phục không phải xuất phát từ mặc cảm tự ti của người này đối với người kia, do sợ quyền hành vật chất, tình cảm hay tinh thần mà người kia có được trên bản thân mình nhưng xuất phát từ lòng kính sợ Chúa, và sự thật được phản chiếu nơi người bạn đời mình.

– Tùng phục thể hiện sự cao thượng của tâm hồn: biết nhận ra người khác có lý và mình sai lầm luôn luôn là một thách thức. Biết vâng lời vợ/chồng mình vì người ấy nghe theo tiếng nói của chân lý không bao giờ thể hiện sự thua thiệt của bản thân, ngược lại thể hiện sự cao thượng và ngay thẳng của tâm hồn mình, chẳng những không hạ thấp phẩm giá của mình mà còn làm bạn đời nể phục mình hơn nữa mà thôi.

– Tùng phục nhau là khiêm tốn đón nhận Chân lý: điều quan trọng là không phải là hơn thua, dành phần thắng về mình mà làm sao để chân lý được chiến thắng, là giúp nhau nhận ra chân lý. Khi chân lý thắng thì chẳng có ai thua mà cả mà cả hai đều thắng. Vì vậy, cần phải thực sự khiêm tốn để nhận ra chân lý và vâng theo chân lý bất luận chân lý đến từ ai. Chính ở đây mà ta thấy được lòng khiêm tốn là nhân đức căn bản vì không có khiêm tốn làm sao đón nhận được chân lý khi chân lý phản đối chính mình?

– Ta có nhiệm vụ tùng phục nhau khi ý thức người bạn đời của mình tượng trưng cho sự thật và ta chỉ có thể xứng đáng với sự tùng phục mà bạn đời dành cho mình bằng việc quy chiếu đến giáo huấn của Đức Kitô, đến sự thật.

Lời khuyên dành cho người vợ

Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa (Cl 3, 18).

Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa vì chồng là đầu của vợ cũng như Ðức Kitô là Ðầu của Hội Thánh, chính Người là Ðấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người.

Như Hội Thánh tùng phục Ðức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Vợ hãy kính sợ chồng (Ep 5, 22-24).

Chị em là những người vợ, hãy phục tùng chồng, như vậy, dù có những người chồng không tin Lời Chúa, họ cũng sẽ được chinh phục nhờ cách ăn nết ở của chị em mà không cần chị em phải nói lời nào, vì họ thấy cách ăn nết ở trinh tiết và cung kính của chị em (1Pr 3, 1-2).

– Sự tùng phục nơi người vợ là biểu hiện của tin yêu: sự tùng phục được người chồng mong đợi hơn và coi như biểu hiện của sự thán phục, tin tưởng và tình yêu từ phía vợ mình. Để tùng phục chồng mình, người vợ phải xem chồng mình như là đầu của mình bằng việc quy chiếu đến Đức Kitô, đầu của Hội Thánh.

– Người phụ nữ được khuyên dành cho người chồng mình một sự tùng phục đặc biệt, không phải chỉ là mang tính hình thức, giả hình nhưng một sự tùng phục thực sự, thể hiện sự tôn kính, vâng lời tương xứng với trật tự tạo dựng và với con người của phụ nữ.

– Sự tùng phục của người vơ làm cho mình được yêu hơn: việc thể hiện tin tưởng, thán phục và tôn kính của người vợ đối với chồng mình tạo điều kiện cho chồng mình đóng vai trò là người chồng tốt hơn, tạo điều kiện cho chồng mình thể hiện một tình yêu quảng đại và bao dung hơn. Điều đó thể hiện rõ nhất nữ tính của mình, có khả năng thu hút một sự quan tâm lớn lao hơn, một sự che chở thắm thiết hơn nơi chồng, từ đó dành được một tình yêu lớn lao hơn từ chồng mình.

Lời khuyên dành cho người chồng

Người làm chồng hãy yêu thương vợ đừng cay nghiệt với vợ (Cl 3, 19).

Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Ðức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Ðức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh (Ep 5, 25-29).

Anh em là những người chồng, trong cuộc sống chung, anh em nên hiểu rằng đàn bà thuộc phái yếu; hãy tỏ lòng quý trọng vì họ cũng được hưởng sự sống là hồng ân Chúa ban(Pr 3, 7).

– Người chồng cần phải yêu thương vô vị lợi và vô hạn: người chồng được khuyên dành cho vợ mình một tình yêu tuyệt đối, vô vị lợi, vị tha đi đến mức độ trao ban chính mình, quên mình, lấy cảm hứng từ tình yêu của Đức Kitô dành cho Hội Thánh và quy chiếu đến khuôn mẫu của tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh.

– Yêu thương mới được tùng phục. Để xứng đáng với một sự tùng phục tuyệt đối từ phía vợ mình, người chồng phải dành cho vợ mình một tình yêu tuyệt đối, bao dung, quảng đại, kiên nhẫn, cảm thông nhờ đó có thể nhận được từ vợ mình một sự tùng phục hoàn toàn.

– Yêu thương vợ mình chính là thánh hóa vợ mình.Theo gương Đức Kitô, người chồng được kêu mời trao ban chính mình trọn vẹn cho vợ mình với một tình yêu không tính toán, vô giới hạn, vô điều kiện, mang tính cứu độ theo nghĩa thánh hóa, thanh tẩy, làm đẹp và hoàn thiện hóa vợ mình với một sự quan tâm chu đáo. Người chồng không chỉ yêu thương vợ như chính thân thể mình mà còn có nhiệm vụ làm cho vợ mình trở nên “xinh đẹp lộng lẫy”, thánh hóa vợ mình bằng tình yêu trọn hảo của Đức Kitô.

– Có một mối tương quan giữa tình yêu và sự tùng phục. Sự tùng phục tạo điều kiện thuận lợi cho tình yêu và ngược lại, tình yêu thực sự sẽ đón nhận được sự tùng phục hoàn toàn đặc biệt trong mối liên hệ vợ chồng.

– Sự tùng phục tuyệt đối và thành thật của người vợ sẽ dành được tình yêu của chồng mình. Và tình yêu nhưng không và quảng đại của người chồng sẽ được đáp trả bởi sự tùng phục của vợ mình.

Sống đạo vợ chồng là sống chứng tá

– Cả hai phải phải ý thức và cố gắng sống yêu thương và hiệp thông sâu xa để có thể phản chiếu cho nhau và cho mọi người, qua tình yêu của mình, tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh, qua mối tương quan của mình, mối tương quan giữa Đức Kitô và Hội Thánh, được lấy làm khuôn mẫu và nguồn cảm hứng.

Như thế đối với chúng ta, những người có gia đình, ngoài việc sống đạo làm người làm con Chúa, ta còn phải tiền vàn sống trọn đạo nghĩa vợ chồng. Đó không chỉ là nhiệm vụ căn bản gắn liền với ơn gọi sống đời hôn nhân mà còn là sứ mạng làm chứng tá Tin mừng tình yêu cho Đức Kitô.

Sống đạo vợ chồng là con đường dẫn đến hạnh phúc viên mãn

Đôi vợ chồng chỉ có thể kinh nghiệm được trật tự, hài hòa, và bình an trong gia đình và từ đó đạt đến sự hạnh phúc, sự viên mãn mà Chúa muốn khi mỗi người giữ nghiêm chỉnh khuôn vàng thước ngọc này: sống trọn vẹn bổn phận với tư cách là vợ, là chồng trong sự kính sợ Chúa, tùng phục lẫn nhau, tôn trọng và yêu thương nhau chân thành và tha thiết trong bất cứ mọi hoàn cảnh và điều kiện dù cho phải trải qua nhiều gian truân thử thách như lời hứa khi cử hành Bí tích Hôn phối.

Làm sao có thể sống trọn đạo nghĩa vợ chồng?

Sống đạo vợ chồng mãi mãi là một thách đố, vì hậu quả của nguyên tội, vì những khác biệt tận căn và những khủng hoảng giá trị những cạm bẩy của thời hiện đại ảnh hưởng bởi nền văn minh sự chết. Nhưng là Kitô hữu chúng ta hoàn toàn có lý do để tin tưởng và cậy trộng vì sức mạnh của ta không phải nơi chính mình mà là ở chính Chúa như thánh Phaolô nói: “Chính lúc tôi yêu là lúc tôi mạnh(2 Cr 12:10) hay “Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng làm cho tôi nên mạnh(Pl 4: 13). Nghĩa là khi ta biết khiêm tốn nhận ra yếu đuối giới han và bất toàn của mình để chỉ biết cậy dựa vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa.

6.4. Sống đạo cha mẹ

Sống Phúc âm trong gia đình với tư cách là cha là mẹ không gì khác hơn là sống đạo cha mẹ. Thường người ta chỉ nói đến đạo hiếu, đạo làm con, chứ ai lại nói đạo làm cha mẹ. Nhưng đã nói đến đạo xử thế thì phải bao gồm cả việc cha mẹ xử sự với con cái chứ, Và chưa nói theo tinh thần Phúc âm, càng làm lớn, phải trở nên khiêm nhường, nên cụm từ đạo cha mẹ hoàn toàn chính đáng. Chưa nói rằng một cách hiện sinh theo tâm lý học tự nhiên, nếu cha me không sống đạo làm cha làm mẹ thì đừng có mong con mình sống đạo hiếu đối với mình vì tất cả những gì con mình nhận được về đạo xử thể, đầu tiên, quan trọng nhất, ăn sâu nhất là từ chính cách xử thế của chính cha mẹ mình.

Sống đạo cha mẹ là đưa con cái mình đến với Chúa

Người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu, để Người đặt tay trên chúng. Thấy vậy Người bực mình nói với các ông: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng” (Mc 10, 13-14).

– Cha mẹ cần phải đưa con cái đến với Chúa, là nhà giáo dục đích thật và là Đấng duy nhất có thể mang đến cho chúng sự sống viên mãn. Không được khư khư giữ chúng cho riêng mình, hoăc ngăn cản chúng đến với Chúa bằng đời sống phản chứng đối với Phúc âm, hoặc bằng việc cấm đoán chúng đi theo ơn gọi của Chúa mà còn phải tạo điều kiện thuận lợi để chúng đến với Chúa.

– Cha mẹ ngăn cấm con cái mình đến với Chúa khi không quan tâm đến chúng, hoặc thiếu quan tâm, hoặc vì những thái độ phản chứng, hoặc tệ hơn nữa, vì gương mù gương xấu, trở nên cớ vấp phạm cho con cái mình.

– Cha mẹ đưa con cái đến với Chúa bằng việc khơi dậy, giúp con cái phát sinh hạt giống đã được Chúa gieo vào lòng chúng, dạy cho con cái biết yêu mến học hỏi Lời Chúa trong Kinh Thánh, bắt chước các gương lành đạo đức của nhân vật trong Kinh Thánh, trong Phúc âm, bằng cách thông truyền cho chúng sứ điệp của Tin mừng qa lời nói, và việc làm, tập cho chúng ứng xử theo tinh thần Phúc âm, là giúp chúng là giúp chúng vượt qua những sóng gió thử thách cám dỗ của cuộc đời, hiện thực hóa bản thân mình theo ý định của Chúa, là giúp chúng cảm nghiệm được sâu xa niềm vui sống Phúc âm, đạt đến hạnh phúc viên mãn. Và nếu lỡ mà con cái mình có sa ngã thì theo gương Đức Giêsu Kitô cha mẹ có sứ mạng cứu những gì đã hư mất, thực hiện sứ mạng biến đổi và hoán cải, là giúp con cái mình được phục sinh trong ơn nghĩa của Chúa nhờ lời nguyện, khuyên bảo và nhất là tình thương và gương sáng.

Sống đạo cha-mẹ-con là học hỏi từ chính con cái của mình

“Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn của một trẻ em thì sẽ chẳng được vào” (Mc 10, 15).

Thông thường là cha mẹ, ta chỉ nghĩ đến việc dạy dỗ, khuyên răn, chỉ bảo cho con cái mình mà quên rằng chính bản thân mình cũng phải học từ chính con cái mình và điều này lại vô cùng quan trọng.

– Cha mẹ không chỉ có trách nhiệm giáo dục con cái mà còn phải nhìn con cái như thầy dạy của mình về đàng thiêng liêng vì với tâm hồn đơn sơ và trong trắng, khiêm nhường, con cái là tấm gương để cha mẹ noi theo trong việc tiếp nhận Nước Trời như Lời Chúa nói “Ai không trở nên như trẻ nhỏ thì sẽ không được vào Nước Trời.” Đôi khi chính con cái mình giúp mình nhận ra lầm lỗi khuyết điểm của chính mình, giúp cha mẹ nối kết và hòa giải.

– Cha mẹ phải nhận ra rằng con cái chính là những thiên thần bé nhỏ mà Chúa gửi đến cho mình để nhắc nhở mình sống Lời Chúa, đặc biệt sống tinh thần vui tươi, đơn sơ, chân thật, khiêm nhường, tin tưởng phó thác.

Sống đạo cha-mẹ-con là nâng niu con cái của mình

“Rồi Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng” (Mc 10, 16). Thông thường khi con cái mình còn nhỏ bé, cha mẹ nào cũng thích nâng niu, chiều chuộng, nhưng đến khi chúng lớn thì đôi khi lại bỏ lơi chúng.

– Cha mẹ phải nhận ra con cái mình vừa là một món quà mà Chúa ban và cũng vừa là một bảo vật quý giá mà Chúa giao phó để nâng niu, gìn giữ và hoàn thiện theo thánh ý Chúa, vì chúng không phải là sở hữu của mình mà là của Chúa. Rất nhiều cha mẹ có một ngộ nhận vô cùng nguy hiểm là con cái là sở hữu của mình và từ đó áp đặt lên chúng mọi điều mình muốn, sử dụng chúng theo ý riêng của mình, thậm chí biến chúng thành nô lệ phục vụ cho ý muốn ích kỷ độc đoán của mình. Thật ra con cái là chỉ là sở hữu của Chúa mà thôi vì chính Thiên Chúa tạo nên chúng (creator) cha mẹ chỉ là người cộng tác truyền sinh (pro-creator). Chính vì thế cha mẹ phải hoàn trả con cái mình cho Chúa.

– Cha mẹ cần đón nhận và đối xử với con cái bằng sự tôn trọng, tình thương và sự triều mến, phải bảo vệ, che chở con cái khỏi những cạm bẩy nguy hiểm đe dọa và cầu nguyện cho con cái.

– Cha mẹ phải tôn trọng, cung kính nâng niu con cái như linh mục nâng niu Chúa Giêsu dưới hình tấm bánh vì ai đón nhận trẻ thơ là đón nhận chính Chúa. “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy, và ai đón tiếp Thầy, là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.

Để thực hiện mọi điều trên đây, cha mẹ phải đóng vai trò của một người thầy khôn ngoan nhạy bén, một người hướng đạo sáng suốt, kiên nhẫn, một người bạn thành thật và cởi mở, và một người tôi tớ khiêm hạ, phục vụ.

Một cách cụ thể để thực hiện sứ mạng Phúc âm hóa gia đình, mỗi người trong gia đình được mời gọi hoán cải dưới ánh sáng Lời Chúa, sống triệt để những đòi hỏi của Phúc âm trong niềm vui sâu xa, và thông truyền niềm vui ấy đến với những người trong chính gia đình mình và môi trường sống xung quanh mình. Muốn thế, ta cần phải sống kết hiệp với Đấng mà không có Người ta chẳng có thể làm gì thực sự có giá trị trước mặt Chúa cả bằng việc cầu nguyện, lắng nghe chiêm ngắm Lời Chúa, bằng việc đón nhận thường xuyên và ý thức hơn các Bí tích, quan tâm nhiều hơn đến những nhu cầu và mong đợi của từng thành viên trong gia đình mình, và lưu tâm đáp ứng, duy trì và canh tân việc đọc kinh chung trong gia đình để làm sao việc này không chỉ là một thói quen tốt, một nhiệm vụ phải làm mà như là cơ hội để cùng nhau lắng nghe Lời Chúa, lắng nghe nhau, cầu nguyện với Lời Chúa và chia sẽ tâm tình sống Lời Chúa, ăn cơm chung, làm việc, sinh hoạt, chơi chung và cùng nhau tham gia vào các buổi tỉnh tâm, học hỏi chia sẻ Lời Chúa, tham gia vào các hoạt động từ thiện…

Kết luận

Thật ra khi đọc Phúc âm, ta mới ngạc nhiên khám phá ra những người đón nhận Lời Chúa và biến đổi cuộc đời, và trở thành chứng nhân Phúc âm hầu hết chỉ là dân thường, thậm chí là những người yếu đuối, tội lỗi, bị mọi người xa lánh chứng không phải là thành phần tư tế, luật sĩ, Pharisiêu. Người phụ nữ Samritanô bên giếng Giacóp năm sáu đời chồng sau khi gặp gỡ Đức Giêsu qua Lời của Người đã nhận ra Người chính là Đấng Cứu Thế, Phúc âm chính là Lời Hằng Sống, đã biến đổi cuộc đời (bỏ vò kín nước lại sau lưng mình), ra đi loan báo sứ điệp Tin mừng cho dân thành (Ga 4, 3-41). Chuyện anh mù ngồi bên vệ đường bị người ta coi thường xua đuổi được Chúa mở mắt không chỉ về mặt thể lý, nhưng còn mở cả đôi mắt đức tin, và sau khi nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế đã lập tức bỏ mọi sự đi theo Người (Lời Chúa 18, 35-43). Hay chuyện anh mù bẩm sinh nghe theo Lời Chúa đi rửa mắt tại hồ Xilôe, trở thành một nhân chứng đức tin sống động: anh không chỉ tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa mà còn trở nên như thể một nhà biện hộ tôn giáo, một thần học gia mở mắt cho kẻ khác (Ga 9, 1-41). Rồi Giakêu, một người thu thuế, phạm tội công khai cấu kết với ngoại ban, làm giàu trên xương máu đồng bào mình, bị mọi người khinh rẽ xa lánh, sau khi được Chúa đến thăm nhà, đã tiếp đón Người, đón nhận ơn cứu độ của Người, biến đổi cuộc đời, thưc thi công bằng bác ái, chia nữa phần gia tài cho người nghèo và bù đắp gấp bốn lần cho những kẻ mình đã làm thiệt hại (Lc 19, 1-10; Mt 20, 20-34; Mc 10, 46-52). Và một Maria Mađalêna sau khi được Chúa chữa lành bảy quỷ, yêu thích lắng nghe Lời Người, đi theo Người đến chân thập giá và loan báo Tin mừng Phục sinh cho anh em (Ga 20, 11-18)

Điều đó cho chúng ta thấy rằng người giáo dân chúng ta chẳng những có khả năng tiếp nhận Phúc âm, mà còn rất nhạy bén với Phúc âm, và có thể trở thành một nhân chứng Phúc âm sống động thuyết phục hơn ai hết do chính lịch sử bản thân, kinh nghiệm hiện sinh của mình trong mọi khía cạnh của cuộc đời trần thế, chẳng những có thể sống Phúc âm mà còn có thể thực hiện sứ mạng Phúc âm hóa theo mọi nghĩa như đã nói trên đây.

Là giáo dân, chúng ta vẫn luôn cần đến các bài giảng, giáo huấn của các đấng, cần đến những tấm gương sống Phúc âm của các đấng, nhưng điều đó hoàn toàn không miễn chuẩn cho ta việc tiếp xúc Phúc âm một cách cá vị để từ đó múc lấy ánh sáng, nguồn cảm hứng sống chứng tá Phúc âm. Tất cả chúng taa đều kinh nghiệm điều này: không phải những điều hay người khác nói cho mình, dù là bậc thánh hiền, thánh sống làm cho mình sống được điều đó, nếu bản thân ta không cảm nghiệm được, nội tâm hóa được và biến thành máu thịt của mình. Chính vì thế ta không thể hài lòng với việc lắng nghe Lời Chúa một cách thụ động mà ta phải tiếp cận khám phá Lời Chúa bằng cả con người minh, không phải chỉ bằng trí tuệ, mà bằng con tim, bằng chính lịch sử bản thân của ta và kinh nghiệm hiện sinh của ta.

Ta chỉ có thể sống Phúc âm thực sự khi ta nhận ra Phúc âm không phải là một sứ điệp ngoại lai, là một điều gì đó đến từ bên ngoài, được áp đặt lên trí tuệ của ta, mà là một tiếng vọng, một lời mời gọi xuất phát từ trong cỏi sâu thẳm của tâm hồn mình, phản ánh khao khát sâu xa nhất của lòng mình, khao khát chân, thiện, mỹ, khao khát đạt đến sự tự do thực sự trong việc sống tình yêu sung mãn.

Xin Chúa chúc lành cho những nỗ lực nhỏ bé của các gia đình chúng ta và ước mong Năm Phúc âm hóa gia đình trở nên thực sự một cơ hội tốt đẹp giúp cho gìa đình chúng ta tái khám phá niềm vui sống Phúc âm, khơi lại và làm bùng lên nhiệt huyết sống Phúc âm nơi mỗi gia đình Kitô hữu chúng ta như xưa ngọn lửa ấy đã thiêu đốt các thánh tông đồ, các thánh tử đạo, đặc biệt các thánh tử đạo Việt Nam, trong đó có những giáo dân thuộc đủ mọi thành phần và lứa tuổi sống trong đời sống gia đình.

Trương Đình Giai