Home / Thánh Martinô - Suy Tư / Chúa đã sống lại thật rồi… Ha-lê-lui-a!

Chúa đã sống lại thật rồi… Ha-lê-lui-a!

 

 

Bốn nươi ngày chay đã trôi qua, và Tuần Tam Nhật Thánh với việc tưởng niệm cuộc thương khó cùng với cái chết của Đức Giê-su rồi cũng kết thúc. Hôm nay, toàn thể Giáo Hội long trọng mừng Lễ Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh.

“Chúa đã sống lại thật rồi, Ha-lê-lui-a. Kính dâng Người vinh quang và uy quyền. Đến muôn đời muôn thuở. Ha-lê-lui-a”. Vâng, đây là ca nhập lễ của ngày lễ Phục Sinh và đó cũng là điều mà chúng ta tuyên xưng vào mỗi Chúa Nhật, rằng “Người sống lại thật như lời Thánh Kinh”.

Khi nói đến việc Đức Giê-su Phục Sinh, với những người theo chủ nghĩa thực dụng, họ cho đó là niềm tin của những kẻ lạc hậu. Còn với những người cổ súy chủ nghĩa vô thần, họ cho niềm tin đó chỉ là câu chuyện của huyền thoại.

Với chúng ta là người Ki-tô hữu, đây không phải là một niềm tin mơ hồ, nhưng là một niềm tin dựa vào lời chứng thực nơi những người  môn đệ của Đức Giê-su khi xưa. Họ là những người đã thấy, đã sờ, đã nghe Đức Giê-su Phục Sinh, thậm chí (có lần) đã ăn uống chung với Ngài.

Câu chuyện “Ngôi mộ trống”, với lời chứng thực của hai tông đồ Phê-rô và Gio-an, cho sự Phục Sinh của Đức Giê-su, như một lời chứng hùng hồn.

Câu chuyện đã được kể lại như sau: Hôm ấy, đó là ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối. Vâng, mặc dù trời còn tối, thế nhưng “bà Mác-đa-la (vẫn) đi đến mộ”. Bà đi đến mộ của ai? Thưa, của Đức Giê-su.

Bà Mác-đa-la, như chúng ta được biết, là người đã được Đức Giê-su trừ quỷ và chữa bệnh. Vào ngày Đức Giê-su bị bắt và bị giết chết, bà ta đã theo chân Người suốt con đường từ dinh Philato đến tận đỉnh đồi Gôn-gô-tha. Chính mắt bà chứng kiến cảnh hành hình và cái chết của Ngài.

Bà cũng là nhân chứng cho việc chôn cất Đức Giê-su. Nơi Ngài được chôn cất là một thửa vườn, trong mảnh vườn ấy có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.

Ông Giô-sếp, người A-ri-ma-thê, được tổng trấn Phi-la-tô cho phép nhận thi hài Đức Giê-su để chôn, hôm ấy,“bà và một bà khác cũng tên là Maria…” thấy rõ ràng ông ta đã “lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá”. Sau đó “ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ rồi ra về” (x.Mt 27, …60) Ấy vậy mà, hôm nay, khi đến mộ, bà Ma-ri-a Mác-đa-la “thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ”.

Thế này là thế nào! Vâng, trong nỗi ngỡ ngàng, bà ta vội vã “chạy về gặp ông Simon Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến”. Khi gặp hai ông, bà nói:  “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” (Ga 20,1-2).

Sau khi nghe những lời kể của Maria Mác-đa-la, không một chút chần chờ, chuyện kể tiếp rằng: “ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ”. Rất vội vã, “cả hai người cùng chạy”.

Có lẽ, do nhanh nhẹn hơn, nên người “môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước”.  Khi tới ngôi mộ, nơi Thầy Giê-su đã được mai táng, đúng y như lời kể của bà Maria Mác-đa-la, “Ông cúi xuống và nhìn  thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào”.

Si-mon Phê-rô tuy chậm hơn, nhưng rồi cũng đến nơi. Đến nơi: “Ông vào thẳng trong mộ, (và cũng) thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại xếp riêng ra một nơi” (x.Ga 20,..7).

Đức Giê-su đâu? Ông Phê-rô không thấy, chỉ thấy ngôi mộ nơi đã chôn cất Đức Giê-su, giờ đây chỉ là “ngôi mộ trống”. Còn người môn đệ kia “kẻ đã tới mộ trước cũng đi vào”. Và rồi, chuyện kể rằng: “ông đã thấy và đã tin”.

Chỉ là một ngôi mộ trống, nhưng Simon Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến đã tin, một niềm tin đơn sơ như trẻ nhỏ. Và chính niềm tin đơn sơ như trẻ nhỏ đó, đã mở cửa lòng các ông, mở ra để đón nhận Lời Thiên Chúa truyền dạy, rằng: “theo Thánh Kinh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết”.

“Theo Thánh Kinh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết”. Chúng ta cũng tin, như các tông đồ xưa, đã tin! Câu trả lời là của riêng mỗi chúng ta. Thế nhưng, hãy nhớ rằng, thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô đã có lời chia sẻ rằng: “Mà, nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trỗng rỗng”.

Vâng, chúng ta hãy nghe thánh nhân nhấn mạnh: “Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền… Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta chỉ là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người”(x.1Cr 15, 19)

Tất nhiên, cũng như xưa kia, các thượng tế và kỳ mục đạp đổ niềm tin Đức Giêsu Phục Sinh bằng cách dùng thủ đoạn hối lộ “cho lính một số tiền lớn” để họ vu khống lên rằng, “các môn đệ của (Giêsu) đã đến lấy trộm xác”, thì ngày nay vẫn còn không ít người cũng tìm đủ mọi lý lẽ để chống lại niềm tin Đức Giê-su Phục Sinh.

Triết gia người Đức, David Strauss, đã nêu lên vấn đề này trong tác phẩm “The life of Jesus critically examined” với lập luận cho rằng: Các tín hữu đầu tiên của Kitô giáo đã cố tìm mọi cách để gán cho Giê-su đủ thứ huyền thoại về một Đấng Cứu Thế mà mọi người mong đợi. Tác giả cuốn sách cố chứng minh rằng, Đức Giê-su của Kinh Thánh chỉ là một Giê-su của huyền thoại.

Có lẽ, chúng ta không cần tranh luận gì về những điều mà họ đã viết. Tại sao? Thưa, bởi những gì họ đã viết đều có một điểm chung, đó là “sự dối trá và lừa lọc”. Mà “dối trá và lừa lọc” thì, như lời của Benjamin Franklin nói, đó chỉ là:  “hành động của kẻ ngu xuẩn không có đủ trí óc để trung thực.”

Vâng, là một Ki-tô hữu, để không bị sự dối trá và lừa lọc của thế gian làm ảnh hưởng đến niềm tin, không gì tốt hơn là hãy nghe chính Lời Chúa qua Thánh Kinh.

Thánh Kinh không thể lừa dối chúng ta, bởi những gì đã được viết trong Thánh Kinh, nếu là sự lừa dối, tất nhiên không thể tồn tại đến hôm nay.

Abraham Lincoln có nói “ai đó có thể lừa dối một số người trong một lúc, và lừa dối hết mọi người trong vài lúc, nhưng không thể mãi mãi lừa dối được tất cả mọi người.”

Vì thế, thật phải đạo khi hôm nay, chúng ta hãy nghe lại lời Chúa Giêsu đã phán khi xưa, rằng, “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Ta, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25-26)

Và cũng đừng quên, nơi bàn tiệc Thánh Thể, với niềm tin, chúng ta sẽ thấy Chúa Giêsu Phục Sinh, một Giêsu đã phán hứa rằng, “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54).

Cuối cùng,  như đã nói ở trên, ngày nay vẫn còn không ít người, cách này cách khác,  phủ nhận sự Phục Sinh của Đức Giê-su. Chính vì thế, hôm nay, không phải là các tông đồ, các giáo phụ, mà là chính chúng ta, chính chúng ta phải chứng minh cho thế giới biết rằng: “Theo Thánh Kinh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết”.

Chúng ta sẽ chứng minh như thế nào? Thưa, sự minh chứng  tốt nhất, đó là chính đời sống cụ thể của chúng ta, rằng bao năm tin Chúa, đời sống của chúng ta có đổi thay!

Rằng, con người cũ của tôi có chết đi, chết đi cho những thói hư tật xấu của con người cũ của tôi! Rằng, con người cũ của tôi có chết đi, chết đi cho thói ích kỷ, là nguyên nhân của mọi tội lỗi! Rằng, con người cũ của tôi có chết đi, chết đi cho cái tôi của mình, để mặc lấy con người mới, con người của vị tha, của tình yêu thương.

Nói tắt một lời, nếu chúng ta biết kiện toàn những điều được nêu trên, Giáo Hội không còn là một viện bảo tàng, một viện bảo tàng trưng bày dấu tích Đức Giê-su Phục Sinh, nhưng là nơi công bố, từ nay cho đến ngày tận thế, rằng: “Chúa đã sống lại thật rồi, Ha-lê-lui-a”.

Petrus.tran