Home / The Sunday Mass In English / 4th Sunday of Easter C (Eng – Vie)

4th Sunday of Easter C (Eng – Vie)

 

4th Sunday of Easter

 Acts 13:14,43-52Rev 7:9,14-17

Chúa Nhật 4 Phục Sinh

CV 5:27-32,40-41; Kh 5:11-14

Gospel John 10:27-30

27 My sheep hear my voice, and I know them, and they follow me;

28 and I give them eternal life, and they shall never perish, and no one shall snatch them out of my hand.

29 My Father, who has given them to me, is greater than all, and no one is able to snatch them out of the Father’s hand.

30 I and the Father are one.”

Phúc Âm Gioan 10:27-30

27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.

28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.

30 Tôi và Chúa Cha là một”.

Interesting details

      The context. Jesus was at the temple in the winter, at the feast of Hanukkah, which celebrated the reconsecration of the temple in 164 BC after a Jewish revolt against the Syrian domination. In v. 24 of this chapter, the Jews asked whether Jesus was the Messiah, meaning whether he would deliver them from foreign dominion again. What Jesus said here did not satisfy them, so they wanted to stone him (v. 31).

      Shepherd was a title commonly used for the king or ruler of the people in ancient Mesopotamia and also in Israel. God Himself is called the Shepherd of Israel (Gen. 48:15, Ps. 28:9, etc.)

      “My sheep hear my voice” (v. 27). Few people had their own sheep-pen, so different shepherds put their sheep together in the same pen each evening. Next morning, each shepherd would call his own sheep.

      “I give them eternal life” (v. 28). Jesus is a special shepherd. Not only he knows and feeds his sheep, but he also gives them eternal life; not only a life, but “have [life] to the full” (Jn 10:10).

      “From my Father’s hand no one can snatch away” (v. 29). This supreme power shows that the Father is God, because the souls are in God’s hand (Wisdom 3:1) and no one can snatch them from God’s hand (Isaiah 43:13). So Jesus is the Son of God. Furthermore, he is also God, and has the same power to protect souls.

      “The Father and I are one” (v. 30). This short verse expresses clearly he unity of power and operation, and led to the 4th-century Church doctrine of one divine nature in the Trinity.

      The unity in verse 30 also binds all people together: “that they may be one, even as we (Jn 17:11).

Chi tiết hay

      Bấy giờ là mùa đông, Đức Giêsu ở trong đền thờ vào dịp kỵ niệm lễ Cung Hiến Đền Thờ. Lễ này bắt nguồn từ cuộc nổi dậy chiến thắng của dân Do thái chống lại sự đô hộ của người Syria xảy ra hồi năm 164 trước Tây Lịch. Trong câu 24 của chương này, người Do Thái hỏi Đức Giêsu phải chăng Ngài là Đấng Mêsia, nghiã là Ngài có phải là người sẽ giải thoát họ khỏi ách nô lệ hay chăng. Lời giải đáp của Đức Giêsu ở đây không làm cho họ thoả mãn nên họ định ném đá Ngài (c.31).

     Người chăn chiên là một danh hiệu thường được dùng cho vua hoặc lãnh tụ của dân vùng Mesopotamia xưa kia và cả Do Thái nữa. Thiên Chúa cũng được gọi là Chủ chiên của dân Do Thái (Sáng Thế 48:15, TV 28:9, vv.)

      “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi” (c.27). Ít người chăn chiên có một chuồng chiên riêng của mình, họ thường chung nhau nhốt chiên vào một chỗ vào buổi tối. Sáng hôm sau, mỗi người đến gọi riêng những con chiên của mình ra.

      “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời” (c.28). Đức Giêsu là một người chăn chiên đặc biệt. Không những nuôi nấng và biết con chiên của mình, Ngài còn cho chúng sự sống đời đời; không phải chỉ một cuộc sống, nhưng là “cuộc sống dồi dào” (10:10).

      “Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha” (c.29). Sức mạnh tuyệt đối này trong Kinh Thánh Cựu Ước dành riêng cho Thượng Đế, như trong câu mọi linh hồn đều ở trong bàn tay Chúa (Khôn Ngoan 3:1) và không ai cướp được chúng khỏi bàn tay Chúa (Isaia 43:13). Vậy Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Hơn nữa, Ngài cũng là Thiên Chúa, và cũng có sức mạnh như thế để bảo vệ mọi linh hồn.

      “Tôi và Chúa Cha là một” (c.30). Câu văn ngắn này nói một cách rõ ràng sự hiệp nhất trong quyền năng và hành động, và từ đó Giáo Hội đã ban bố tín điều Chúa Ba Ngôi.

      Sự hiệp nhất, trong câu 30, cũng nối kết mọi ngưòi lại với nhau: “để họ nên một như chúng ta” (17:11).

One main point

The Trinity binds us together in love and gives us a full, eternal life.

Một điểm chính

Chúa Ba Ngôi nối kết chúng ta lại trong tình thương và cho chúng ta sự sống dồi dào và vĩnh cửu.

Reflections

1. Do I listen to the Lord’s call so that I can follow Him and he can feed me?

2. Looking at my life, do I see how the Lord has fed and led me?

3. Am I united with all people, rich and poor, in all nations? Why, or why not?

 

Suy niệm

1. Tôi có lắng nghe lời mời gọi của Chúa để có thể theo Ngài và nhờ đó được Ngài nuôi sống?

2. Nhìn lại cuộc sống của tôi, tôi có nhận ra Chúa đang nuô nấng và dẫn dắt tôi chăng?

3. Tôi có hiệp nhất được với mọi người, giàu cũng như nghèo, không phân biệt quốc gia? Lý do tại sao?