Home / English Mass / 29th Sunday in ordinary Time B (Eng – Vie)

29th Sunday in ordinary Time B (Eng – Vie)


 

29th Sunday in Ordinary Time

Isaiah 53:10-11 ; Hebrews 4:14-16

Chúa Nhật 29 Thường Niên

Isaia 53:10-11 ; Do Thái 4:14-16

Gospel Mark 10:35-45

35 And James and John, the sons of Zeb’edee, came forward to him, and said to him, “Teacher, we want you to do for us whatever we ask of you.”

36 And he said to them, “What do you want me to do for you?”
37 And they said to him, “Grant us to sit, one at your right hand and one at your left, in your glory.”

 

38 But Jesus said to them, “You do not know what you are asking. Are you able to drink the cup that I drink, or to be baptized with the baptism with which I am baptized?”

39 And they said to him, “We are able.” And Jesus said to them, “The cup that I drink you will drink; and with the baptism with which I am baptized, you will be baptized;

40 but to sit at my right hand or at my left is not mine to grant, but it is for those for whom it has been prepared.”
41 And when the ten heard it, they began to be indignant at James and John.

42 And Jesus called them to him and said to them, “You know that those who are supposed to rule over the Gentiles lord it over them, and their great men exercise authority over them.

43 But it shall not be so among you; but whoever would be great among you must be your servant,

44 and whoever would be first among you must be slave of all.

45 For the Son of man also came not to be served but to serve, and to give his life as a ransom for many.”

Phúc Âm Máccô 10:35-45

35 Hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói: “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây”.

36 Người hỏi: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?”

37 Các ông thưa: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”.

38 Đức Giêsu bảo: “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”

39 Các ông đáp: “Thưa được”. Đức Giêsu bảo: “Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu.

40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được”

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan.

42 Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình.

43 Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em;

44 ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.

45 Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạnh sống làm giá chuộc muôn người”.

Interesting Details

  • (v.35) James and John are two of Jesus most intimate disciples. They were with him at the transfiguration. This may explain the way they ask Jesus for favors, like children who try to get a commitment from an adult before the adult knows what he is in for! Their request shows their ambition, and how little they care for the others.
  • (v.37) It seems almost impossible that after Jesus predicts his suffering and death three times (since 8:31) the disciples still do not understand. How patient Jesus is with his disciples.
  • (v.38) The “cup” and “baptism” are symbols of Jesus suffering and death. Here Mark ties together two events in Jesus life: his baptism at Jordan and his death on the cross. Paul will later teaches Christian baptism as a dying with Christ.
  • (v.41) Jesus does not reprimand James and John immediately after their request for first places. Perhaps he wants them to see the consequence of their ambition. The result is the lost of peace among the disciples.
  • (v.42) The term “lord it over” is a vivid way of describing leadership as raw power.
  • (v.43) The term “servant,” diakonos, literally means “the one who waits on tables.”
  • (v.45) This is a description of Jesus as a servant: to give his life as ransom for all. “Ransom” means the price of deliverance or liberation, as in the release of a slave.

Chi Tiết Hay

  • (c.35) Giacôbê và Gioan là hai môn đệ thân cận nhất của Chúa Giêsu. Họ đã ở cùng Ngài khi Chúa Giêsu biến hình trên núi. Có lẽ vì thế mà cách họ xin Chúa Giêsu giống như cách một đứa trẻ vòi quà, muốn ngườI cho nhận lời trước khi biết mình nhận lời cho cái gì! Điều hai ông xin cho thấy hai ông đầy tham vọng, chẳng màng gìđến anh em mình.
  • (c.37) Bắt đầu từ chương 8:31 đến đoạn này, tính ra Chúa Giêsu đã tiên đoán cuộc thương khó và cái chết của Chúa đến ba lần rồi, thế mà các môn đệ của Người vẫn không hiểu. Chúa rất kiên nhẫn biết bao đối với các môn đệ của Người.
  • (c.38) “Chén uống” và “phép rửa” là dấu chỉ cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu. Thánh Maccô đã nối liền hai sự việc trong đời Chúa Giêsu: việc Ngài nhận phép rửa ở sông Giodan, và chết trên cây thánh giá. Thánh Phaolô về sau cũng giảng dạy rằng chịu phép rửa là cùng chịu chết với Đức Kitô.
  • (c.41) Chúa Giêsu đã không la mắng hai ông Giacôbê và Gioan ngay sau khi nghe lời đòi hỏi của hai ông. Có thể Chúa muốn cho hai ông thấy hậu quả của tham vọng là sự mất bình an ở giữa cộng đoàn của các ông.
  • (c.42) “áp đặt trên họ quyền bá chủ” diễn tả một cách thật tượng hình quyền thế của người thủ lãnh.
  • (c.43) Danh từ “đầy tớ “, diakonos, có nghĩa là “người hầu bàn”.
  • (c.45) Chúa Giêsu diễn tả vai đầy tớ của mình: là ngườI hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. “Giá chuộc” có nghĩa là giá phải trả để chuộc, để giảI thóat, như khi giải thoát một người nô lệ.

One Main Point

Jesus teaches his disciples about what it means to be a Christian: it is NOT to “lord it” over others. It is to be a servant, the one who waits on tables. And honor is achieved through one’s suffering as a servant.

Một Điểm Chính

Chúa Giêsu dạy các môn đệ thế nào là một người Ki Tô Hữu: Không phải là để “áp đặt quyền thế “trên người khác, nhưng phải là người đầy tớ, là kẻ hầu bàn. Và được vinh quang khi biết chấp nhận sự tủi nhục của một kẻ tôi tớ.

Reflections

1. In imagine myself present with James and John in their “private” meeting with Jesus. As they have asked favors from him, so have I. What are the favors I have asked of Jesus? How would he answer me?

2. In my community (family, social group, church, etc) how do I serve others? Would Jesus have to say to me, “It should not be so among you”?

3. The disciples were shortsighted, ambitious, and selfish men. What love and confidence Jesus must have had on these men who went on to become pillars of the church. How do I look upon my brothers and their weaknesses? How should I look upon them?

Suy Niệm

1. Tôi đặt mình vào Giacôbê và Gioan khi hai ông đi gặp riêng Chúa Giêsu. Như họ đã xin Chúa, tôi cũng đã từng van xin Ngài. Tôi xin Ngài làm điều gì cho tôi? Chúa sẽ trả lời tôi như thế nào?

2. Tôi phục vụ anh em như thế nào trong cộng đoàn của tôi (gia đình, nhóm, nhà thờ,v.v.)? Hôm nay đây Chúa Giêsu có cần phải nóI với tôi “nhưng giữa anh em thì không phải như vậỵ” chăng?

3. Các môn đệ của Chúa thật thiển cận, nhiều tham vọng và ích kỵ. Vậy mà Ngài thương họ biết bao, và rồi họ đã trở thành những cột trụ tinh thần của Giáo Hội. Còn tôi, tôI nhìn những người anh em nhiều yếu đuối và tội lỗi quanh tôi ra sao? Tôi nên nhìn họ với ánh mắt nào?