Home / The Sunday Mass In English / 15th Sunday in Ordinary Time C (Eng- Vie)

15th Sunday in Ordinary Time C (Eng- Vie)

 

15th Sunday in Ordinary Time

Dt 30:10-14 ; Col 1:15-20

Chúa Nhật 15 Thường Niên

Ds 11:25-29 ; Gc 5:1-6

Gospel Luke 10:25-37

25 And behold, a lawyer stood up to put him to the test, saying, “Teacher, what shall I do to inherit eternal life?”

26 He said to him, “What is written in the law? How do you read?”

27 And he answered, “You shall love the Lord your God with all your heart, and with all your soul, and with all your strength, and with all your mind; and your neighbor as yourself.”

28 And he said to him, “You have answered right; do this, and you will live.”

29 But he, desiring to justify himself, said to Jesus, “And who is my neighbor?”

30 Jesus replied, “A man was going down from Jerusalem to Jericho, and he fell among robbers, who stripped him and beat him, and departed, leaving him half dead.

31 Now by chance a priest was going down that road; and when he saw him he passed by on the other side.

32 So likewise a Levite, when he came to the place and saw him, passed by on the other side.

33 But a Samaritan, as he journeyed, came to where he was; and when he saw him, he had compassion,

34 and went to him and bound up his wounds, pouring on oil and wine; then he set him on his own beast and brought him to an inn, and took care of him.

35 And the next day he took out two denarii and gave them to the innkeeper, saying, ‘Take care of him; and whatever more you spend, I will repay you when I come back.’

36 Which of these three, do you think, proved neighbor to the man who fell among the robbers?”

37 He said, “The one who showed mercy on him.” And Jesus said to him, “Go and do likewise.”

Phúc Âm Luca 10:25-37

25 Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”

26 Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”

27 Ông ấy thưa: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và người thân cận như chính mình”.

28 Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”.

29 Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?”

30 Đức Giêsu đáp: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.

31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi.

32 Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.

33 Nhưng một người Samaria kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương.

34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.

35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiều, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”.

36 Vậỉy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”

37 Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”.

Interesting Details

  • (vv.25-28) A lawyer was a person who interpreted and taught the Jewish law. Instead answering the lawyer, Jesus turned the question back for the inquirer’s own answer.
  • (v.29) According to the Leviticus text, the neighbor is one’s fellow Israelite. In this parable, ‘neighbor’ is the attitude a person has toward others rather than the blood or social bonding, or physical closeness in locality.
  • (v.30) The route from Jerusalem to Jericho was a crooked trail descending over 3,000 feet from the green hills around Jerusalem to the desert wilderness below sea level at Jericho. The winding road surrounded by many huge boulders and nearby caves made it a likely place for ambushes by robbers.
  • (v.32) A Levite assisted the priest in the place of service, taking care of the altarware and providing musical leadership, ushering, and teaching. Originally, the Levites were descendants of Levi, one of the sons of Jacob, and were charged with the care of the sanctuary.
  • (v.33) The Samaritans were residents of the district of Samaria, located between Galilee and Judea. Because of intermarriages with other nationalities, they were not of pure Jewish blood. They also had a rival place of worship to the Temple in Jerusalem on Mount Gerizim. For these reasons, the Jewish had no dealings with the Samaritans.
  • (vv.34-37) While the lawyer wants to know who was his neighbor before he loves that person, the Samaritan did just the opposite. Being a Samaritan in Judea, he is in the wrong place and might become the suspect if caught near a victim, and yet he did the unexpected.

Chi Tiết Hay

  • (cc.25-28) Luật sĩ là người giảng dạy về luật Do Thái. Thay vì trả lời câu hỏi của người luật sĩ, Đức Giêsu đã hỏi ngược lại để ông ta tự trả lời.
  • (c.29) Theo sách Lêvi, người thân cận là người cùng thuộc dân Do thái. Trong dụ ngôn này, người thân cận dùng để chỉ thái độ của một người đối với những người khác, chứ không nhất thiết phải là họ hàng, bè bạn, hay hàng xóm lân cận.
  • (c.30) Đường từ Giêrusalem đến Jericho là một đọan đường gập ghềnh khúc khuỵu và đổ dốc trên 3,000 bộ từ những ngọn đồi xanh chung quanh Giêrusalem xuống tới vùng sa mạc thấp hơn mặt biển ở Jericho. Đoạn đường quanh co này được bao bọc bởi những tảng đá lớn, cộng thêm những hang động gần đó đã là nơi thích hợp để bọn ăn cướp mai phục và tấn công.
  • (c.32) Người Lêvi phụ giúp thày thượng tế những công việc nơi thờ phượng, như trông coi các đồvật nơi cung thánh, hướng dẫn lễ nhạc, sắp chỗ, và phụ giảng. Khởi đầu họ thuộc chi tộc Lêvi, là một trong những người con trai của Giacóp, và được giao cho việc trông coi nhà thờ tổ.
  • (c.33) Người Samaritan là dân cư ở Samaria, là vùng nằm giữa Galilê và Giuđêa. Họ không còn là nguyên gốc Do thái nữa vì đã kết hôn với nhiềi giống dân khác. Ngoài ra họ còn có đền thờ riêng trên đồi Gerizim chứ không chịu quy thuận về đền thánh Giêrusalem. Vì những lý do này mà người Do Thái không muốn liên hệ với người Samaritan.
  • (cc.34-37) Trong khi người luật sĩ muốn biết ai là người thân cận của mình trước rồi mới tuân theo luật mà thương yêu kẻ đó, người Samaritan trong dụ ngôn của Đức Giêsu lại làm ngược lại. Vùng Giuđêa không phải là nơi để người Samaritan lai vãng tới, và ông có thể bị coi là thủ phạm nếu bị bắt quả tang đang ở bên cạnh nạn nhân. Vậy mà ông đã can đảm làm những điều trái với sự suy nghĩ bình thường.

One Main Point

Jesus uses this parable to send His powerful message: love all and serve anyone who is in need. This action should not exclude those we are not normally associated with, it may appear to be against the law and we might be blamed for instead of being praised.

Một Điểm Chính

Đức Giêsu đã dùng dụ ngôn người Samaritan để lưu lại một sứ điệp hùng hồn: hãy yêu thương tất cả, và phục vụ những ai đang thiếu thốn, ngay cả những người mà bình thường ta không muốn giao tiếp, dù cho có thể bị trái luật hoặc có thể bị bắt lỗi thay vì được ngợi khen.

Reflections

1. There are certain people that I would normally avoid being in contact with (people with different political viewpoints, other races, drug users, unkind leaders, unfriendly people, etc.)? Is it because of my fear of being rejected or defeated, or taken advantage of by them, or fear of being misjudged and disrespected by others when I am around these people?

2. Am I ready to have courage in trying to reach out to everyone and care for those who need help?

Suy Niệm

1. Có nhiều người mà bình thường tôi tránh không tiếp xúc (những người khác với tôi về chính kiến, màu da, hạng hút sách, hạng lãnh dạo kém đức dộ, những người kém thân thiện, v.v…). Có phải vì tôi sợ bị họ khước từ, bị mất thể diện, hay bị họ lợi dụng? Hay tôi sợ bị người khác hiểu lầm và coi thường khi tôi gần gũi nhữngngười này?

2. Tôi có sẵn sàng can đảm để cố gắng tìm đến với mọi người và săn sóc những người đang cần được giúp đỡ?